CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số vấn đề chung về năng lực, năng lực tìm hiểu tự nhiên 1. Khái niệm năng lực Khái niệm NL có thể khác nhau tùy thuộc vào quan điểm và lĩnh vực nghiên cứu. Trong tâm lý học và thần kinh học, NL được xem là khả năng của một cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể hoặc tập hợp các nhiệm vụ với một mức độ thành thạo nhất định.
NL thường được đánh giá bằng các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa và bao gồm các kỹ năng như giải quyết vấn đề, ra quyết định và tính linh hoạt trong nhận thức. Đã từng có một cuộc tranh luận xảy ra về vấn đề NL là khả năng bẩm sinh hay là kết quả của các yếu tố môi trường tác động, chẳng hạn như giáo dục hay kinh nghiệm. Theo từ điển tiếng Việt, định nghĩa NL có thể được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó, hoặc phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo tác giả Bernd Meiner và Nguyễn Văn Cường, NL được định nghĩa như sau “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng và kinh nghiệm cũng như hành động”.TS Nguyễn Công Khanh “Nl là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong bối cảnh nhất định nhợ sự huy động tổng hợp có kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… NL của các cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề xác định của cuộc sống”.
[2] Theo Hoffmann, thuật ngữ "năng lực" vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng trong tài liệu. Có hai định nghĩa chính đã được đề cập, trong đó một trong những định nghĩa tập trung vào kết quả đầu ra hoặc sản phẩm của quá trình đào tạo, tức là mức độ thành thạo. Định nghĩa kia thì tập trung vào các khía cạnh bên trong, tức là những đặc điểm hoặc thuộc tính cố định của một con người đã thực hiện thành thạo. Cả hai định nghĩa này được sử dụng để mô tả cả NL của cá nhân và tổ chức.
Đồng 5 thời, đã có một hệ thống phân loại các khái niệm liên quan đến NL, giúp chỉ ra rằng thuật ngữ này có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo mục đích sử dụng cụ thể. [3] Theo David Perkins, "NL là khả năng thực hiện một hoạt động hoặc một nhiệm vụ một cách thành thạo, bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện hành động hoặc nhiệm vụ đó. Thuật ngữ "năng lực" là một khái niệm trừu tượng và không có một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên, theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), NL là khả năng thực hiện một hành động hoặc một nhiệm vụ một cách thành thạo.
Nó bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện hành động hoặc nhiệm vụ đó. Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng định nghĩa của NL theo "Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể" của Bộ GD&ĐT, đã được công bố như sau:“NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [5]. Tổng kết lại, khái niệm về NL có thể khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hoặc quan điểm. Bằng cách tìm hiểu và so sánh các quan điểm khác nhau về NL, chúng ta có thể hiểu toàn diện hơn về tầm quan trọng của nó và cách phát triển cũng như nâng cao NL.
Phát triển NL có thể góp phần nâng cao sự phát triển của mỗi cá nhân trong nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Cấu trúc năng lực Trong chương trình GDPT tổng thể, được công bố bởi Bộ GD&ĐT vào tháng 12/2018, đã rõ ràng xác định những NL cơ bản và NL đặc thù cần thiết phải phát triển và định hình cho HS như sau[5]: - Những NL cơ bản, được xây dựng và phát triển thông qua toàn bộ lộ trình giáo dục và các hoạt động học tập, bao gồm: khả năng tự quản lý và học tập độc lập, khả năng giao tiếp hiệu quả và hợp tác trong nhóm, cùng với khả năng giải quyết vấn đề và thể hiện sự sáng tạo. - Những NL đặc thù, tập trung vào một số môn học và hoạt động giáo dục cụ thể, bao gồm: kỹ năng ngôn ngữ, khả năng làm toán, NL trong lĩnh vực khoa học, kiến thức về công nghệ, khả năng sử dụng tin học, năng khiếu về thẩm mỹ, và NL thể chất. 6 - Môn Khoa học tự nhiên được thiết kế để phát triển NL khoa học tự nhiên của HS, với các thành phần chính bao gồm: năng lực nhận thức khoa học tự nhiên, năng lực tìm hiểu tự nhiên, năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
Năng lực tìm hiểu tự nhiên 1. Khái niệm năng lực tìm hiểu tự nhiên Theo Chương trình GDPT môn Khoa học tự nhiên 2018, NL tìm hiểu tự nhiên là khả năng thực hiện một số kĩ năng cơ bản để tìm hiểu, giải thích sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống. Chứng minh được các vấn đề trong thực tiễn bằng các dẫn chứng khoa học.[6] NL trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là khả năng hiểu, diễn giải và áp dụng các khái niệm và nguyên tắc của khoa học tự nhiên. Nó liên quan đến việc thu thập kiến thức và kĩ năng trong lĩnh vực vật lý, hóa học và sinh học để hiểu sâu hơn về thế giới tự nhiên.
NL khoa học tự nhiên đóng vai trò quan trọng đối với những người mong muốn có hiểu biết về thế giới tự nhiên và góp phần vào sự nắm bắt thông tin chung về nó. NL tìm hiểu tự nhiên là năng lực đặc thù được hình thành và phát triển cho HS trong quá trình dạy học môn Khoa học tự nhiên. NL khoa học tự nhiên bao gồm ba phần chính: nhận thức khoa học tự nhiên, tìm hiểu tự nhiên và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Đây là khả năng hiển nhiên của việc thực hiện các kỹ năng cơ bản để khám phá, diễn giải các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống, và đưa ra các bằng chứng khoa học để hỗ trợ các quan điểm và tài liệu về các vấn đề thực tế.
Cấu trúc năng lực tìm hiểu tự nhiên Biểu hiện của năng lực tìm hiểu tự nhiên thực hiện được một số kĩ năng cơ bản để tìm hiểu, giải thích sự vật hiện tượng trong tự nhiên và đời sống. Chứng minh được các vấn đề trong thực tiễn bằng các dẫn chứng khoa học.[6] Bảng 1: Biểu hiện của năng lực tìm hiểu tự nhiên Năng lực Biểu hiện của năng lực - Đề xuất vấn đề, đặt câu hỏi cho vấn đề + Nhận ra và đặt câu hỏi liên quan đến vấn đề. + Phân tích bối cảnh đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức và kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất. - Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết + Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán.
7 + Xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu. - Lập kế hoạch thực hiện + Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu. + Lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, hồi cứu tư liệu,…). + Lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu.
- Thực hiện kế hoạch Tìm hiểu + Thu thập, lưu trữ được giữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tự nhiên tra. + Đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản. + So sánh kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết. - Viết, trình bày báo cáo và thảo luận + Sử dụng được ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt quá trình và kết quả tìm hiểu.
+ Viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu. + Hợp tác được với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. - Ra quyết định và đề xuất ý kiến + Đưa ra quyết định và đề xuất ý kiến xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu. Bảng 2: Cấu trúc năng lực tìm hiểu tự nhiên [7] Năng lực thành phần Tiêu chí Nhận ra vấn đề 1.
Xác định vấn đề tìm hiểu. Phân tích mối liên hệ giữa kiến thức có liên quan với vấn đề tìm hiểu Xây dựng giả thuyết 3. Xây dựng giả thuyết cho vấn đề tìm hiểu. Lập kế hoạch và thực 4.
Lập kế hoạch tìm hiểu vấn đề (thí nghiệm, quan sát, thu hiện kế hoạch thập thông tin, …) 8 5. Thực hiện kế hoạch tìm hiểu vấn đề đã lập ra (quan sát, ghi chép, mô tả các hiện tượng thí nghiệm, tổng hợp dữ liệu …) 6. Phân tích dữ liệu và rút ra kết luận cho vấn đề tìm hiểu Báo cáo kết quả và mở 7. Viết báo cáo và trình bày kết quả của vấn đề tìm hiểu rộng vận dụng vào thực 8.
Vận dụng kết quả tìm hiểu vào các tình huống tương tự tiễn hoặc có biến đổi trong thực tiễn. Dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm dạy học phát triển năng lực - Dạy học phát triển năng lực là mô hình dạy học nhằm mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của học sinh, trong đó học sinh tự nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành nhiệm vụ dưới sự định hướng, tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của người dạy.