chương 1 trình giáo dục. Điều này giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về các mối quan hệ và tương tác giữa các khía cạnh của KHTN, từ đó giúp họ phát triển khả năng tư duy và hiểu biết sâu hơn về thế giới xung quanh. Đặc biệt trong chủ đề có nhiều nội dung gắn liền với thực tiễn không chỉ cung cấp kiến thức, kĩ năng khoa học mà còn góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển các năng lực chung, năng lực đặc thù, trong đó có năng lực tìm hiểu tự nhiên. HS vận dụng kiến thức liên môn để giải thích các hiện tượng trong thực tiễn, qua đó giúp HS nắm vững kiến thức, hiểu được mối liên hệ giữa kiến thức KHTN với đời sống, công nghệ, môi trường và con người.
Nhờ cách tổ chức nội dung giáo dục này, HS có cơ hội phát triển nhận thức khoa học và hình thành các năng lực quan trọng. Điều này không chỉ giúp HS trở thành những cá nhân năng động và sáng tạo, mà còn thúc đẩy quá trình hình thành nhân cách và phẩm chất tích cực của người lao động, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội và quốc gia [21]. Môn KHTN có sự tích hợp và phân hóa rõ ràng, chương trình tiến bộ, nhưng thực hiện chưa đồng bộ ở các khâu, đội ngũ GV chưa đảm bảo. Chương trình thay đổi thì cách thức tổ chức phải khác, đổi mới chương trình thì phải đổi mới SGK; phương pháp, đội ngũ cũng phải thay đổi.
Việc giảng dạy môn học tích hợp hiện nay còn nhiều khó khăn bất cập: GV chưa được đào tạo bồi dưỡng kiến thức bài bản cho môn học; kiến thức bộ môn của GV chưa đầy đủ; công tác bồi dưỡng kiến thức cho GV chưa đảm bảo; công tác quản lý, chỉ đạo dạy học bộ môn chưa quyết liệt, không đồng bộ. GV chưa có kinh nghiệm, CBQL còn lúng túng… Mặc dù đội ngũ không theo kịp, nhưng nhà trường phải làm, phải sử dụng đội ngũ GV hiện có. Mỗi nhà trường sắp xếp theo tình hình thực tế hiện có như dạy song song, dạy nối tiếp, 1 GV dạy, hoặc 3 GV dạy. Cách sắp xếp dạy như thế nào cũng rất khó khăn cho cả nhà trường và GV, khó khăn về cách sắp xếp TKB, xây dựng KHDH, có thời điểm GV dạy ít, có thời điểm quá tải.
2 Tới đây mỗi thầy cô phải dạy cả 3 nội dung Lý, Hóa, Sinh (chỉ 1 GV dạy) sẽ khó khăn hơn rất nhiều, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học của GV, HS. Để thực hiện tốt giảng dạy môn học KHTN phải hết sức quan tâm đến yếu tố con người, đó là năng lực dạy học tích hợp của GV. Nhà trường không thể trực tiếp phát triển đội ngũ giáo viên mà chỉ có khả năng quản lý quá trình phát triển của họ. Vì những lý do trên, tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu về đề tài “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu Đề xuất việc thiết lập các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại các trường THCS ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, nhằm cung cấp một cơ sở chung cho hoạt động bồi dưỡng trong toàn huyện. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu: GV tại các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại các trường THCS.
Câu hỏi nghiên cứu - Thực trạng năng lực dạy học môn KHTN của GV tại các trường THCS trong huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội như thế nào? - Phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ra sao? 3 - Hiệu quả của các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN đối với GV tại các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội như thế nào? 5. Giả thuyết khoa học Công tác quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại 7 trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. NẾU đề xuất được các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV môn KHTN hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn, tập trung khắc phục các khâu yếu, chỉ đạo thực hiện đồng bộ nâng cao kiến thức chuyên môn, đổi mới PPDH với đổi mới KTĐG kết quả học tập của HS ở các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. THÌ sẽ nâng cao chất lượng môn học KHTN, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường; Và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận về: Năng lực dạy học của GV và Bồi dưỡng năng lực dạy học. - Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực dạy học của GV môn KHTN và quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN đối với CBQL, GV, HS tại 7 trường THCS đại diện cho 3 nhóm trường trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN.
Phạm vi nghiên cứu: 4 Tại 7 trường THCS đại diện cho 3 nhóm trường trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội: THCS THCS Ngọc Mỹ - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. THCS Thạch Thán - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. THCS Ngọc Liệp - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. THCS Sài Sơn - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội.
THCS Liệp Tuyết - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. THCS Cấn Hữu - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. THCS Nghĩa Hương - Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. Đối tượng khảo sát: - 39 CBQL (gồm: CBQL và chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Quốc Oai, Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng các nhà trường, và các tổ trưởng chuyên môn).
- 39 GV môn KHTN và 70 HS tại 7 trường THCS đại diện cho 3 nhóm trường trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Thời gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu, thực hiện trong phạm vi 2 năm học: 2021 - 2022 và 2022 - 2023. Phƣơng pháp nghiên cứu 8. Phương pháp nghiên cứu về mặt lí luận Từ đó, một khung lý thuyết được hình thành nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu.
Đề tài được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử, lấy cảm hứng từ tư tưởng của Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là trong việc dạy học tích hợp và quản lý nâng cao năng lực giảng dạy tích hợp. Phương pháp nghiên cứu về mặt thực tiễn - Phương pháp quan sát: Theo dõi các biểu hiện về thái độ và hành vi của học sinh để thu thập thêm thông tin để đánh giá thực trạng năng lực giảng dạy môn KHTN cũng như quản lý bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho giáo viên tại 7 trường trung học cơ sở. - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế và triển khai các bảng khảo sát cho 78 đối tượng (bao gồm 5 cán bộ quản lý và chuyên viên Phòng Giáo dục huyện Quốc Oai, 34 hiệu trưởng và các tổ trưởng chuyên môn, cùng 39 giáo viên môn KHTN) và 70 học sinh tại 7 trường trung học cơ sở đại diện cho 3 nhóm trường trong huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Mục tiêu là điều tra và nắm bắt thực trạng bồi dưỡng năng lực giảng dạy môn KHTN cho giáo viên cũng như công tác quản lý việc bồi dưỡng này tại 7 trường THCS, với các nội dung được thực hiện khi khảo sát như sau: Khảo sát sự hiểu biết của CBQL và GV về yêu cầu dạy học môn KHTN cũng như tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực giảng dạy.
+ Lấy ý kiến của CBQL, GV về những biện pháp được đề xuất trong quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại 7 trường trong huyện. - Phương pháp phỏng vấn: Cách tiếp cận bằng việc thực hiện cuộc phỏng vấn sâu rộng với các đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập thêm thông tin, làm sáng tỏ và bổ sung những dữ liệu đã được tổng hợp và thu thập từ phương pháp điều tra. Những thông tin này có giá trị là căn cứ để nhận xét, khẳng định chính xác hơn thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN và quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại 7 trường THCS trong huyện. Ngoài ra, tìm hiểu thêm các nhân tố tác động tới thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN và quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN cho GV tại 7 6 trường THCS trong huyện, cũng như những kiến nghị của CBQL, GV về vấn đề này.
Phương pháp xử lí thông tin: Sử dụng thống kê toán học để xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học môn KHTN của GV và quản lý hoạt động dạy học môn KHTN ở trường THCS tại 7 trường trong huyện dưới dạng: Bảng số liệu, biểu đồ. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LU N QUẢN L ỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƢỜNG THCS 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan tới đề tài Chủ đề giáo dục thế kỷ XXI của Ủy ban quốc tế về giáo dục đã nhấn mạnh: "Mặc dù GV không phải là tất cả, nhưng họ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài"; "Mục tiêu của học tập là học để hiểu, học để thực hành, học để sống chung và học để phát triển bản thân"; "Học tập được coi là một giá trị tốt đẹp nội tại". Hiện nay, hệ thống giáo dục của chúng ta vẫn chưa thể đảm bảo đạt được tất cả bốn mục tiêu của Ủy ban quốc tế về giáo dục trong chủ đề giáo dục thế kỷ XXI.
Thế kỷ XXI thường được gọi là thời đại của Nền kinh tế dựa trên Kỹ năng (Skills Based Economy) bởi Ngân hàng Thế giới. Khả năng của con người được đánh giá dựa trên ba khía cạnh chính: kiến thức, kỹ năng, và thái độ, tất cả trong ngữ cảnh có ý nghĩa.