Chương 1: Tổng quan về phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga; Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga. 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế 1.
Khái niệm về thanh toán quốc tế - GS. Nguyễn Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Hồng Hải trong cuốn giáo trình “Thanh toán Quốc tế và Tài trợ Ngoại thương" có chỉ ra rằng: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan." - Theo từ điển Wikipedia: “Thanh toán quốc tế là một trong số các nghiệp vụ của ngân hàng trong việc thanh toán giá trị của các lô hàng giữa bên mua và bên bán hàng thuộc lĩnh vực ngoại thương, tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt không cần thông qua ngân hàng là thanh toán quốc tế qua tiền mã hóa (ví dụ: Bitcoin, Ethereum). Đinh Xuân Trình có đề cập rằng: “Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước.” - Còn theo quan điểm của PGS.
Trầm Thị Xuân Hương: “Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau.” 10 Từ những định nghĩa trên ta có thể khái quát được rằng TTQT được hình thành dựa trên hoạt động ngoại thương, thể hiện nghĩa vụ ràng buộc giữa bên XK (thanh toán) và bên XK (giao hàng hóa, dịch vụ) ở hai quốc gia khác nhau (hoặc ở cùng một quốc gia trong trường hợp XK vào khu chế xuất) thông qua các NHTM hoặc các TCTD. Đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế Trong kinh doanh, chúng ta có thanh toán nội địa gồm những đặc điểm về đồng tiền, nguồn luật điều chỉnh, chủ thể,. thì với TTQT cũng có những đặc điểm cơ bản gồm: - Thứ nhất, về nguồn luật điều chỉnh. Hoạt động TTQT dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc, quy định về luật pháp và các tập quán, điều ước, thông lệ quốc tế.
Song cũng đồng thời chịu sự điều chỉnh của quy định, chính sách quốc gia như chính sách tiền tệ, chính sách ngoại hối, chính sách đối ngoại,. Ví dụ trong PTTT bằng L/C, nếu phát sinh mâu thuẫn, xung đột giữa các điều kiện trong UCP600 và bộ luật nội địa hiện hành thì ưu tiên áp dụng luật quốc gia. - Thứ hai, về đồng tiền thanh toán. Khác với hoạt động thanh toán trong nước chủ yếu dùng tiền mặt thì trong TTQT, gần như không có sự xuất hiện của tiền mặt mà chủ yếu là hối phiếu, kỳ phiếu và séc.
Ngoài ra, đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với một trong hai bên XK và NK, ngoại trừ một số quốc gia sử dụng đồng tiền chung như Liên minh châu Âu (sử dụng đồng tiền EUR),. - Thứ ba, về chủ thể trung gian. Hầu như NHTM sẽ là đóng vai trò là trung gian thanh toán và thông qua doanh số TTQT sẽ trực tiếp phản ánh kim ngạch XNK của quốc gia, trừ một vài trường hợp có thể kể đến như “con đường tiểu ngạch” – “một hình thức thương mại quốc tế hợp pháp được tiến hành giữa nhân dân hai nước sinh sống ở các địa phương hai bên biên giới 11 mà kim ngạch của mỗi giao dịch hàng hóa hữu hình có giá trị nhỏ theo quy định của pháp luật” (Theo Wikipedia). Tuy nhiên, việc vận chuyển bằng tiểu ngạch chiếm một con số khá ít trong giao thương quốc tế vì vẫn còn tồn tại khá nhiều rủi ro và chỉ áp dụng cho việc vận chuyển quãng đường gần.
Tại Việt Nam nói riêng, theo Khoản 3 Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 có quy định rằng: “Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng” hay theo Khoản 3 Điều 7 Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH 2013 hợp nhất về Pháp lệnh Ngoại hối nêu rằng: “Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến XK, NK hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện thông qua tổ chức tín dụng được phép" tức là bên XK và bên NK không được phép thanh toán trực tiếp với nhau mà bắt buộc phải có sự xuất hiện của hệ thống NHTM hoặc các TCTD. - Thứ tư, về ngôn ngữ. Trong suốt quá trình từ đàm phán hợp đồng, đến thanh toán,. thì ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng là tiếng anh.
Ngoài ra, việc sử dụng các ngôn ngữ khác sẽ căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên mua và bán, tuy nhiên, việc xuất trình bộ chứng từ thanh toán tại ngân hàng vẫn bắt buộc phải có một bản dịch bằng tiếng anh đã được công chứng. - Thứ năm, về việc giải quyết tranh chấp. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ và cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu xảy ra mâu thuẫn, người bán và người mua sử dụng luật quốc tế, luật quốc gia hoặc luật của một quốc gia thứ ba để giải quyết. Việc quyết định nguồn luật có thể: + Quy định rõ ràng khi ký kết hợp đồng: “Các vấn đề phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này được giải quyết theo luật nước người bán/mua/nước thứ ba" hoặc “Mọi vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng này sẽ được giải quyết theo luật nước người bán/mua/nước thứ ba",.
+ Quy định sau khi ký kết hợp đồng, thậm chí tại thời điểm xảy ra tranh 12 chấp. Trong thực tiễn, rất hiếm khi xảy ra trường hợp này bởi lẽ cách này chỉ áp dụng khi mà trong hợp đồng đã ký không đề cập tới bất kỳ điều khoản về luật áp dụng. Thêm vào đó, tại thời điểm xảy ra tranh chấp thì hai bên khó có thể đạt được sự nhất trí trong việc lựa chọn về nguồn luật vì cả hai bên XK và NK đều không muốn chịu thua thiệt, muốn được bảo vệ quyền lợi của mình. + Thực hiện bởi quyết định của trọng tài quốc tế.
Điều 7 khoản 2 của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 có chỉ ra rằng: “Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn (. Trong trường hợp các bên không lựa chọn được pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng Trọng tài quyết định”. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế TTQT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc gia, là mắt xích không thể thiếu trong hoạt động TMQT, là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ quốc tế, đồng thời cũng là chiếc cầu gắn kết các mối quan hệ kinh tế và đối ngoại giữa các quốc gia với nhau. Vai trò đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu - Giúp công ty XNK sớm nhận được tiền hàng.
Khi thực hiện bất kỳ giao dịch mua bán quốc tế nào thì cũng đều phải trải qua quy trình từ hỏi hàng, đàm phán, đặt hàng,. và khâu cuối cùng là thanh toán. Do vậy, tốc độ TTQT nhanh hay chậm sẽ tác động trực tiếp đến người bán, nếu quá trình thanh toán quá chậm có thể dẫn đến tình trạng thiếu nguồn vốn để tiến hành hoạt động vận hành doanh nghiệp, sản xuất, nghiên cứu thị trường,. và ngược lại.
Đặc biệt, trong phương thức TTQT chuyển tiền trả trước, hoạt động TTQT nhanh hay chậm cũng quyết định việc nhà NK nhận được hàng từ nhà XK sớm hay muộn. - Quy mô hoạt động của các DN XNK sẽ ngày càng được mở rộng, mối quan hệ giữa hai bên mua bán sẽ được nâng cao khi mà hoạt động TTQT phát triển. Điển hình là việc buôn bán hàng hoá sẽ trở nên thuận lợi hơn bởi nhà 13 XK sẽ có thể xoay vòng vốn nhanh hơn và thực hiện được những đơn hàng mới liên tục với mức giá ưu đãi. - Là công cụ hạn chế các rủi ro từ phía nhà XK hoặc NK trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán thông qua các PTTT như nhờ thu, L/C,.
Thực tế, luôn tồn tại những rủi ro cho cả bên mua và bên bán trong quá trình giao dịch hàng hóa quốc tế như thông tin đối tác, tình hình hoạt động kinh doanh, mức độ uy tín,. dẫn đến tình trạng ái ngại khi giao dịch với các đối tượng ở vị trí địa lý quá xa, nhưng giờ đây những vấn đề này đã phần nào được giải quyết thông qua nghiệp vụ TTQT và giúp cho hoạt động XNK được thông suốt, phát triển. Vai trò đối với ngân hàng thương mại - Tăng nguồn thu ròng thông qua các khoản phí (phí dịch vụ chuyển tiền, phí thanh toán L/C, phí bảo lãnh,.), kinh doanh ngoại tệ và hỗ trợ tư vấn thông qua việc đa dạng các sản phẩm và dịch vụ của các NHTM; đồng thời nâng cao vị thế, uy tín và thương hiệu của NH trên thị trường trong nước nói riêng và quốc tế nói chung. - Đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng quy mô hoạt động của các NHTM bằng việc thu hút sự quan tâm của KH có nhu cầu giao dịch TMQT, từ đó có nguồn vốn để phát triển các nghiệp vụ như huy động vốn ngoại tệ, TTTM,.
và các dịch vụ khác. - Là tiền đề để nâng cao chất lượng hệ thống CNTT trở nên tiên tiến và hiện đại hơn, góp phần đẩy nhanh tốc độ xử lý giao dịch cũng như dễ dàng bắt kịp với tiến độ, xu thế phát triển của các NHTM trên toàn cầu. - Thiết lập được mạng lưới NHĐL với các NHTM và các TCTD ở các quốc gia khác, nhờ đó có thể tận dụng nguồn vốn tài trợ để giải quyết bài toán đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh.