Chương 1. Cơ sở luận lý luận về phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI của ngân hàng thương mại. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Shinhan Bank chi nhánh Thái Nguyên Chương 3. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp FDI tại Shinhan Bank chi nhánh Thái Nguyên 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LUẬN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP FDI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP FDI 1. Khái niệm về doanh nghiệp FDI Theo Từ điển tiếng Việt, “Đầu tư là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội”. Như vậy, đầu tư được tiếp cận là hoạt động sử dụng các nguồn lực ở thời điểm hiện tại để tạo ra các tài sản vật chất hoặc trí tuệ mới cho xã hội hoặc là hoạt động sử dụng các nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian nhất định.
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức của hoạt động đầu tư, đã và đang đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế toàn cầu. Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2019). FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): FDI là hình thức đầu tư với mục đích thiết lập các quan hệ kinh tế bền vững với một công việc kinh doanh đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với quản lý việc đầu tư ấy. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tổ chức kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó” (Đinh Đức Trường, 2015).
Tổ chức Thương mại thế giới đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài 9 sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quan lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Theo đó, các khái niệm về FDI không giống nhau xét dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau, mỗi khái niệm lại nhấn mạnh đến một số khía cạnh của FDI, có quan điểm để cao vai trò, có quan điểm lại nhấn mạnh cách thức đầu tư, tính chất hoạt động đầu tư. Ở Việt Nam, tại Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021, không nêu rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên tại khoản 17 Điều 3 về giải thích từ ngữ có quy định như sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”, đồng thời nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa tại khoản 19 điều 3 Luật đầu tư năm 2020 như sau: “ Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. Luật còn định nghĩa, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông (Quốc hội, 2020). Qua một số khái niệm, có thể thấy Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế.
Những đặc trƣng cơ bản của doanh nghiệp FDI Qua xem xét các định nghĩa về FDI có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của đầu tư nước ngoài như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp FDI có hoạt động đầu trực tiếp gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là việc di chuyển tiền, công nghệ và các tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là việc làm tăng lượng tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận 10 đồng thời làm giảm lượng tài sản của nước đi đầu tư. Thứ hai, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp liên doanh được thực hiện thông qua việc góp vốn thành lập các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC), hợp đồng hợp tác công ty (PPP); góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp của các doanh nghiệp trong nước. Thứ ba, doanh nghiệp FDI có chủ sở hữu nguồn vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định trong trường hợp góp một phần vốn hoặc toàn quyền sở hữu khi góp toàn bộ vốn là nhà đầu tư nước ngoài. Thứ tư, doanh nghiệp FDI chịu sự ảnh hưởng của các nền kinh tế trên quy mô toàn cầu, chịu ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị giữa các nước.
Thứ năm, Doanh nghiệp FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, thể hiện quyền chuyển giao công nghệ, kỹ thuật của nhà đầu tư với nước bản địa. Thứ sáu, các nhà đầu tư trực tiếp điều hành và kiểm soát dòng vốn đầu tư kinh doanh đối với doanh nghiệp FDI. Các loại hình doanh nghiệp FDI Xét về hình thức sở hữu, doanh nghiệp FDI thường có các hình thức sau: Một là, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Hai là, hình thức doanh nghiệp liên doanh: là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập. Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanh thì dù 01 bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại. 11 Ba là, hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới.
Hình thức này không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2019). Xét về hình thức đầu tư, doanh nghiệp FDI thường có các hình thức sau: Một là, Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là một phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài(có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà. Hai là, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): là phương thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng.
Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Ba là, Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà.
Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý (theo Nghị định 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư). Bốn là, Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO): là loại hợp đồng đầu tư công- tư được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các dự án và 12 các Nhà đầu tư, các doanh nghiệp được giao thực hiện dự án để xây dựng nên các công trình cơ sở hạ tầng. Sau khi công trình đã được hoàn thành thì các nhà đầu tư sẽ có quyền sở hữu công trình đó, có quyền kinh doanh đối với chính công trình đó trong một khoảng thời gian theo quy định, theo thỏa thuận.