chương I luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010, “Bảo lãnh NH là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho KH khi KH không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết”. Theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc NH Nhà nước Việt Nam, khái niệm bảo lãnh được xác định: Bảo lãnh NH là cam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho KH (Bên được bảo lãnh) khi KH không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. KH phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã nhận trả thay. Đặc điểm, chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng a.
Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng v Bảo lãnh là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Đây là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ này, người được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với người thụ hưởng bảo lãnh. Đó có thể là nghĩa vụ về tài chính (nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ đóng thuế,.) hoặc nghĩa vụ phi tài chính (như nghĩa vụ cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nghĩa vụ bảo hành sản phẩm,…).
Trong nghiệp vụ bảo lãnh thường có sự tham gia đồng thời của 3 hợp đồng độc lập: Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh (được gọi là “thư bảo lãnh”), hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh (được gọi Luan van 8 là “hợp đồng phát hành bảo lãnh”), hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh (đây có thể là hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ vay vốn,. Tuy có sự phân chia, nhưng ba mối quan hệ này vẫn có mối quan hệ gắn kết nhau và có ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, mỗi bên có trách nhiệm thực hiện hợp đồng với hai bên còn lại. v Tính độc lập của bảo lãnh Bảo lãnh NH có tính độc lập so với hợp đồng.
Mặc dù mục đích của NH là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng của người được bảo lãnh, nhưng việc thanh toán của một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện được quy định trong bảo lãnh. v Tính chất vô điều kiện của bảo lãnh NH Tính chất này được thể hiện ở chỗ, TCTD bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người này đã xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung của thư bảo lãnh hay cam kết bảo lãnh do TCTD phát hành, mà không phụ thuộc vào việc người được bảo lãnh có khả năng tự thực hiện nghĩa vụ của họ hay không. Sự ghi nhận tính chất vô điều kiện trong giao dịch bảo lãnh NH là một đảm bảo tương đối chắc chắn cho lợi ích của người nhận bảo lãnh, đồng thời cũng là lợi thế của bảo lãnh NH so với các hình thức bảo lãnh khác không phải do TCTD thực hiện. Nhờ lợi thế này các TCTD tỏ ra là người có khả năng cung cấp dịch vụ bảo đảm tốt nhất trên thị trường và dường như sự bảo đảm bằng bảo lãnh của TCTD bao giờ cũng được người nhận bảo lãnh ưa chuộng hơn sự bảo đảm bằng bảo lãnh của các chủ thể khác, do tính chất độc lập, vô điều kiện và không thể hủy ngang của bảo lãnh NH.
NH không thể lấy sự việc bên được bảo lãnh còn nợ tiền của NH, bên được bảo lãnh phá sản…để trì hoãn việc thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh đưa ra đầy đủ chứng từ. Luan van 9 v Tính phù hợp của bảo lãnh Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu NH thanh toán thì NH có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. NH bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng. v Bảo lãnh NH là một hoạt động ngoại bảng Bảo lãnh NH là một hình thức tài trợ thông qua uy tín.
NH không phải xuất tiền ngay khi ký bảo lãnh. Do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng. Khi NH thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh thì bảo lãnh được xếp vào nội bảng. Lúc này bảo lãnh được xếp vào loại tài sản xấu cấu thành nợ quá hạn.
Qua đó cho ta thấy, bảo lãnh cũng là một nghiệp vụ chứa đựng rủi ro như một khoản cho vay. Do vậy, NH phải phân tích kỹ lưỡng KH trước khi nhận bảo lãnh. v Bảo lãnh NH là giao dịch không thể đơn phương hủy ngang Tính chất không thể hủy ngang của bảo lãnh NH thể hiện ở chỗ, sau khi cam kết bảo lãnh hay thư cam kết đã được phát hành hợp lệ bởi một TCTD, không một cơ quan nào có thể lấy danh nghĩa đại diện cho TCTD phát hành bảo lãnh để tuyên bố đơn phương hủy bỏ cam kết bảo lãnh, trừ khi tuyên bố này được chấp nhận bởi người nhận bảo lãnh. Nguyên tắc này đảm bảo cho người nhận bảo lãnh có thể yên tâm đòi tiền TCTD bảo lãnh khi đến hạn của nghĩa vụ được bảo lãnh mà người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của họ, bằng cách xuất trình chứng cứ về việc người được bảo lãnh đã vi phạm về nghĩa vụ đối với mình.
Nếu bảo lãnh NH không có tính chất này, nghĩa là nếu bên bảo lãnh có thể đơn phương hủy ngang bất kỳ lúc nào theo ý của mình thì khi đó quyền lợi của người nhận bảo lãnh, cho dù của người có khả năng tài chính mạnh như TCTD, cũng sẽ trở thành vô nghĩa và không cần thiết. Luan van 10 v Bảo lãnh NH là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên chứng từ Tính chất chứng từ của bảo lãnh NH thể hiện ở chỗ, khi TCTD phát hành cam kết bảo lãnh (thư bảo lãnh) cũng như khi người nhận bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu hay khi TCTD bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, các chủ thể này đều bắt buộc phải thiết lập bằng văn bản. Những văn bản này không những là bằng chứng chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch bảo lãnh mà còn là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện được quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình đối với phía bên kia. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng v Bảo lãnh được sử dụng như một công cụ để bảo đảm Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp một sự bảo đảm cho người thụ hưởng.
Trong các giao dịch kinh tế, thương mại giữa các đối tác, đặc biệt là các đối tác ở các quốc gia khác nhau, các bên tham gia ký kết hợp đồng không có sự hiểu biết lẫn nhau thì một trong những yêu cầu đầu tiên để hợp đồng có thể được ký kết là có sự đảm bảo của các NH ở các quốc gia khác nhau đã thiết lập mối quan hệ đại lý với nhau. Bằng việc cam kết chỉ trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các NH phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người thụ hưởng. v Bảo lãnh được sử dụng như một công cụ tài trợ Trong rất nhiều trường hợp, nhờ có bảo lãnh NH mà người được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ, hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ…Như vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh, NH đã giúp cho KH của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự. Với ý nghĩa này, bảo lãnh NH được coi là một trong những dịch vụ Luan van 11 NH có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp.
v Bảo lãnh được sử dụng như một công cụ để đôn đốc hoàn thành hợp đồng Do chịu trách nhiệm thực hiện cam kết với người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng nên NH phát hành bảo lãnh cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh. Mặt khác, người được bảo lãnh luôn bị áp lực của việc phải bồi hoàn bảo lãnh nếu họ vi phạm hợp đồng dẫn đến người bảo lãnh phải trả thay, khi đó lãi suất áp dụng đối với khoản nhận nợ bên bảo lãnh luôn cao hơn lãi suất cho vay thông thường. Do vậy, bảo lãnh NH có vai trò thúc đẩy, đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký kết. v Bảo lãnh được sử dụng như là một công cụ để đánh giá Bất kỳ một ngân hàng nào trước khi phát hành thư bảo lãnh đều cần phải kiểm tra một cách toàn diện về bên được bảo lãnh như: khả năng tài chính, uy tín, khả năng thực hiện hợp đồng và đây là một vấn đề mà bên thụ hưởng không có khả năng thực hiện.
Vì vậy, điều này sẽ giúp cho bên nhận bảo lãnh có thể đánh giá tốt hơn về đối tác của mình, phục vụ cho mối quan hệ hai bên. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng v Đối với bên được bảo lãnh Bảo lãnh ra đời đã trở thành công cụ tài trợ, giúp cho bên được bảo lãnh có thể vay vốn với chi phí thấp hơn. Do đó bên được bảo lãnh có thể sử dụng được nguồn vốn một cách triệt để và tối ưu nhất. Nhờ có bảo lãnh đã giúp cho bên được bảo lãnh có thể tiếp cận được với những dự án, những hợp đồng…ngay cả khi họ chưa có đủ uy tín đối với đối tác, cho dù họ hoàn toàn Luan van 12 có khả năng và phương tiện thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, nhờ có bảo lãnh mà bên bảo lãnh thường xuyên chịu sự giám sát của NH, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có trách nhiệm hơn và hoàn thành các nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh. v Đối với bên thụ hưởng bảo lãnh Bảo lãnh là công cụ bảo đảm quyền lợi cho họ.