Chương 1: Giới thiệu - Giới thiệu về những vấn đền liên quan đến các giải pháp triển khai hệ thống giảng dạy Streaming E-learning, lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Các giái pháp hệ thống Streaming E-learning và lựa chọn giải pháp ứng dụng cho BK-OISP – Nghiên cứu, phân tích các cơ sở lý thuyết về phát triển và đánh giá hệ thống Streaming E-learning. Đánh giá một số hệ thống có thể sử dụng và lựa chọn giải pháp triển khai cho BK-OISP Chương 3: Xây dựng hệ thống Streaming E-learning cho BK-OISP: Xậy dựng bộ tài liệu tổng quát hóa về việc triển khai hệ thống Sreaming E-learning ứng dụng tại BK- OISP Chương 4: Đánh giá hệ thống – Trình bày và đánh giá lại hệ thống đã xây dựng tại BK- OISP, nghiên cứu đưa ra các thang đo nhằm đo lường các khái niệm nghiên cứu, đồng thời kiểm định các giả thuyết về độ phù hợp của mô hình nghiên cứu. Đánh giá ý định và khả năng sử dụng hệ thống Streaming E-learning tại BK-OISP và áp dụng tại các cơ sở đào tạo khác.
Trình bày kết quả kiểm định thang đo, đánh giá mức độ phù hợp của mô hình. Chương 5: Kết luận – Trình bày các kết quả đạt được, nêu lên ưu và nhược điểm của hệ thống và đóng góp về mặt thực tiễn, mặt khoa học của đề tài. CÁC GIẢI PHÁP HỆ THỐNG STREAMING E-LEARNING VÀ LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI CHO BK-OISP 2. Hệ thống Streaming E-learning Tương tự như Livestream của Facebook, khi tham gia lớp học ảo, tất cả học viên và giáo viên đều online cùng một khung giờ.
Như vậy, mọi tương tác là trực tuyến và trực tiếp, bài giảng sẽ được lưu lại để các bạn có thể xem lại khi cần thiết. Đặc biệt, lớp học ảo nằm trong hệ thống quản lý học tập LMS (Learning Management System) đang được các trường Đại học hàng đầu trên thế giới áp dụng sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập. Để xây dựng hệ thống Streaming E-learning hoàn chỉnh cần tích hợp lớp học ảo như là một module trong hệ thống quản lý học tập. Tiếp cận sử dụng và phát triển phần mềm mã nguồn mở BigBlueButton (BigBlueButton).
BigBlueButton là một Web Conference mã nguồn mở, cho phép các trường học hoặc các công ty tạo một lớp học từ xa cho các sinh viên, nhân viên, hoặc tổ chức những cuộc họp thông qua giao diện web. BigBlueButton hỗ trợ chia sẽ được nhiều loại tài liệu như: PDF, PPT, DOC, XLS, office, *JPG…ngoài ra BigBlueButton còn có thể Share desktop, Whiteboard, Chat, truyền Videos thông qua Webcam, camera. Nghiên cứu xây dựng hệ thống Moodle E-learning. Moodle là hệ thống quản lý các khóa học trực tuyến mã nguồn mở được phát triển trên ngôn ngữ lập trình PHP và hệ quản trị CSDL MySQL.
Đây là một trong các LMS (Hệ quản trị học tập) và LCMS (Hệ quản trị nội dung học tập) thông dụng nhất tại Việt Nam. Cộng đồng Moodle Việt Nam sẽ giúp hỗ trợ giải quyết các khó khăn về cài đặt, cách dùng các tính năng, cũng như cách chỉnh sửa và phát triển. Các lý thuyết đánh giá liên quan a. Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action): Thuyết hành động hợp lý TRA được xây dựng từ năm 1967 bởi Ajzen và Fishbein, được thay đổi, mở rộng theo thời gian nhằm dự đoán xu hướng hành vi của người mua hàng.
Thuyết TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng. Thuyết được xây dựng dựa trên các lí thuyết về thái độ của người mua hàng trước đó, trong đó cho rằng có hai nhân tố lớn ảnh hưởng đến xu hướng hành vi của người mua hàng là thái độ và chuẩn chủ quan (Fishbein & Ajzen, 1975) được biểu diễn như trong hình 2.1: Mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA) [11] Diễn tả mô hình TRA một cách đơn giản: một hành vi tự nguyện của một người được dự đoán bởi thái độ của họ đến hành vi này và họ nghĩ rằng những người khác sẽ nhận xét họ như thế nào khi họ thực hiện hành vi đó. Thái độ của con người, kết hợp với chuẩn chủ quan sẽ hình thành nên xu hướng hành vi của con người đó. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour): Thuyết hành vi dự định TPB được phát triển từ thuyết TRA bởi Ajzen từ năm 1985 và bổ sung thêm nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA như được thể hiện trong hình 2.2 bởi vì nhân tố về thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng (Ajzen, 1985).2: Mô hình Thuyết hành vi dự định (TPB) [10] 7 Thành phần nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh sự dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành vi.
Nhận thức kiểm soát hành vi được quyết định bởi những sự tin tưởng về khả năng kiểm soát và thực hiện hành vi của người dùng. Thuyết TPB được xem là một trong những thuyết về hành vi tiêu dùng tốt nhất và được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực xã hội. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model): Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Davis, 1989) được xây dựng nhằm giải thích làm thế nào mà người dùng chấp nhận và sử dụng một công nghệ. Mô hình TAM đã được công nhận rộng rãi là mô hình có tính dự đoán mạnh trong việc chấp nhận sử dụng công nghệ của người dùng.
Các nhân tố chính trong mô hình được thể hiện trong hình 2.3 bao gồm nhận thức sự hữu dụng, nhận thức sự dễ sử dụng và thái độ.3: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) [12] Mô hình đề xuất rằng khi người dùng tiếp cận với một công nghệ mới, những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của họ về việc họ sẽ sử dụng công nghệ này khi nào và như thế nào, bao gồm: Nhận thức sự hữu dụng: thể hiện mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ nâng cao hiệu quả công việc Nhận thức sự dễ sử dụng: thể hiện mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ không cần nhiều nỗ lực d. Thuyết Kỳ vọng - Xác nhận ECT (Expectation-Confirmation Theory): Thuyết ECT là một thuyết dựa trên kinh nghiệm nhằm tìm kiếm giải thích cho sự hài lòng sau mua như là một chức năng của những sự kỳ vọng, những hiệu quả được nhận thấy và sự không xác định của những sự tin tưởng. Cấu trúc của thuyết được được phát triển qua một chuỗi hai bài báo được viết bởi tác giả Richard L. Oliver vào năm 8 1977 và 1980.
Mặc dù thuyết này lúc đầu được phát triển trong lĩnh vực tiếp thị và tâm lí nhưng ngày nay thuyết cũng được chấp nhận trong các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là các nghiên cứu về tiêu dùng và hệ thống thông tin. So sánh với thuyết TPB, thuyết ECT có những sự khác biệt khi bổ sung các nhân tố ảnh hưởng sau mua hàng gồm sự xác nhận và sự hài lòng như hình 2.4: Mô hình Thuyết Kỳ vọng - Xác nhận (ECT) [13] Qui trình qua đó người tiêu dùng quyết định cho việc mua/tiếp tục mua sản phẩm thông qua thuyết Kỳ vọng - Xác nhận được mô tả như sau: Người tiêu dùng hình thành nên sự kỳ vọng khởi đầu về một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó cần mua Người tiêu dùng chấp nhận và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ đó Người tiêu dùng ước định sự hữu dụng nhận thức được thông qua kỳ vọng ban đầu và quyết định mức độ hài lòng được xác nhận Người tiêu dùng hình thành sự hài lòng dựa trên mức độ xác nhận và sự kỳ vọng lên những gì mà sự xác nhận làm cơ sở Những người tiêu dùng hài lòng hình thành nên ý định mua tiếp và ngược lại những người tiêu dùng thất vọng sẽ chấm dứt ý định mua 2. Các công trình nghiên cứu liên quan - Nghiên cứu: "Understanding Information Systems Continuance: An Expectation- Confirmation Model", Anol Bhattacherjee (2001) [14] Anol [14] dựa trên thuyết ECT để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin, một quyết định tiếp tục sử dụng đi kèm với một quyết định chấp nhận ban đầu. Tác giả đã chỉnh sửa thuyết ECT để đưa ra mô hình Kỳ vọng - Xác 9 nhận (Expectation - Confirmation Model, ECM) nhằm giải thích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin.
Các mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình có những sự thay đổi so với thuyết ECT và được thể hiện trong hình 2.5: Mô hình nghiên cứu sau chấp nhận Tác giả cho rằng thuyết ECT không quan tâm đến những thay đổi có khả năng ảnh hưởng đến kỳ vọng của khách hàng khi trải nghiệm sản phẩm. Những sự kỳ vọng sau mua có thể khác với những sự kỳ vọng trước mua. Những sự kỳ vọng trước mua thường dựa trên ảnh hưởng của môi trường xung quanh trong khi những sự kỳ vọng sau mua thường dựa trên những trải nghiệm đầu tiên, và do đó cũng mang tính thực tế cao hơn. Trong khi thuyết ECT kiểm tra cả các biến trước và sau khi tiêu thụ (biến T1 và T2 trong hình 2.4), mô hình ECM chỉ tập trung vào các biến sau khi tiêu thụ.
Lí do là các ảnh hưởng của bất kỳ biến trước tiêu thụ nào cũng đều được nắm giữ bên trong cấu trúc của sự xác nhận và sự hài lòng. Tác giả cho rằng nhân tố kỳ vọng trước tiêu thụ không quan trọng bằng nhân tố kỳ vọng sau tiêu thụ và đó cũng là lí do mô hình ECM lược bỏ nhân tố kỳ vọng trước tiêu thụ. Dựa trên mô hình TAM, mô hình ECM sử dụng nhân tố nhận thức sự hữu dụng để tương xứng với nhân tố sự kỳ vọng sau tiêu thụ. Sau khi phân tích dữ liệu thu thập được qua bảng khảo sát, tác giả đưa ra những kết luận sau dựa trên các con số thống kê: Sự hài lòng là nhân tố quan trọng nhất dự đoán ý định tiếp tục sử dụng hệ thống thông tin của người dùng, kế đó là nhân tố nhận thức sự hữu dụng.
Cả hai nhân tố đều có ảnh hưởng đến ý định của người dùng. So sánh với một số nghiên cứu trước đó sử dụng mô hình TAM, kết quả thu được cho kết quả khác biệt. Trong các nghiên cứu trước đó sử dụng mô hình TAM, nhân tố nhận thức sự hữu dụng có tác động lớn hơn nhân tố thái độ, nhưng nhân tố nhận thức sự hữu dụng lại có tác động nhỏ hơn nhân tố sự hài lòng trong 10 nghiên cứu này.