phần mở đầu và kết luận, luận văn “Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm” đƣợc chia thành ba chƣơng: Chƣơng I: KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Chƣơng II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK- CHI NHÁNH HOÀN KIẾM. Chƣơng III: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI VIETCOMBANK-CHI NHÁNH HOÀN KIẾM. -4- CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan về dịch vụ thẻ thanh toán 1.Khái niệm dịch vụ thẻ thanh toán 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Dịch vụ là hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng và tài sản mà khách hàng sở hữu với ngƣời cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi và vƣợt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Ngành ngân hàng là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nên đƣợc xếp vào ngành dịch vụ. Xét trên giác độ Marketing: Dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhận đƣợc của khách hàng, tổ chức tài chính. Do lịch sử phát triển lâu đời cũng nhƣ sự tăng giảm không ngừng về tổ chức hoạt động theo thời gian của NHTM và sự thay đổi nhƣ vũ bão của khoa học công nghệ mà dịch vụ ngân hàng có thể đƣợc chia thành hai loại: dịch vụ ngân hàng truyền thống (DVNHTT) và dịch vụ ngân hàng hiện đại (DVNHHĐ).
Dịch vụ ngân hàng truyền thống là những dịch vụ có lịch sử lâu đời, sự ra đời và hoạt động của các dịch vụ này gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngân hàng. Đây là những dịch vụ cơ bản, là hoạt động chính đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại của ngân hàng. Các DVNHTT có thể kể đến là: dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm, nhận tiền gửi thanh toán, dịch vụ cho vay… Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề chỉ tập trung vào những dịch vụ ngân hàng hiện đại mới phát triển gần đây, những dịch vụ dựa trên khoa học công nghệ tiên tiến chứa đựng hàm lƣợng công nghệ cao. Vậy có thể hiểu: Dịch vụ ngân hàng hiện đại là những dịch vụ thuộc lĩnh -5- vực tài chính do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình dựa trên sự tiến bộ và phát triển của khoa học công nghệ thông tin hiện đại, có sự đa dạng hoá cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Ví dụ: dịch vụ thanh toán điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử (rút tiền tự động, ngân hàng tại nhà…) 1. Khái niệm dịch vụ thẻ thanh toán Dịch vụ thẻ là một sản phẩm độc đáo và hiện đại, với tính linh hoạt và các tiện ích mà nó có thể cung cấp cho khách hàng, từ khi mới ra đời thẻ thanh toán đã chinh phục đƣợc những khách hàng đƣợc coi là khó tính nhất. Khi thẻ thanh toán ra đời nó đã tạo ra một cuộc cách mạng trong các nghiệp vụ thanh toán của hệ thống ngân hàng bằng việc ứng dụng những thành tựu công nghệ thông tin tiên tiến nhất. Thẻ thanh toán còn đƣợc xem là phƣơng thức thanh toán thay thế tiền mặt hàng đầu trong các giao dịch tiêu dùng, phát triển dịch vụ thẻ sẽ mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia Đối với dịch vụ thẻ thanh toán đã có rất nhiều khái niệm nhƣ: - Thẻ thanh toán là một phƣơng tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng hoặc các máy rút tiền tự động.
- Thẻ thanh toán là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà ngƣời chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. - Thẻ thanh toán là phƣơng thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ thanh toán thẻ gắn liền với quá trình phát triển của thẻ thanh toán và có thể đúc kết : Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và cung cấp cho khách hàng (gọi là chủ thẻ) dùng trong thanh toán hàng hoá, -6- dịch vụ hoặc rút tiền mặt khi có nhu cầu.
Nói một cách đơn giản thì thẻ thanh toán là một tấm “card” đƣợc chế tạo bằng nhựa có gắn băng từ hoặc chíp vi mạch điện tử có bộ nhớ đùng để lƣu chữ thông tin, số liệu về chủ thẻ, hạn mức tín dụng của thẻ, thời gian hiệu lực, số thẻ… , toàn bộ những thông tin này đƣợc mã hoá khi đƣa vào thẻ Dịch vụ thẻ thanh toán là tổng hợp tất cả các dịch vụ gắn liền với thẻ thanh toán, nó tạo nên sự tiện ích cũng nhƣ công dụng của thẻ thanh toán. Hiện nay ngoài dịch vụ cơ bản là rút tiền và thanh toán thì thẻ thanh toán đƣợc tích hợp rất nhiều dịch vụ cùng với sự phát triển của công nghệ nhƣ homebank, internetbanking… 1.Đặc điểm dịch vụ thẻ thanh toán Dịch vụ thẻ thanh toán là một loại dịch vụ nên nó mang đặc điểm chung nhất của dịch vụ: Dịch vụ thẻ thanh toán là sản phẩm vô hình, chất lƣợng dịch vụ rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu tố tác động nhƣ ngƣời bán ngƣời mua và cả thời điểm mua bán dịch vụ đó. Là sản phẩm vô hình, dịch vụ có sự khác biệt về chi phí so với các sản phẩm vật chất. Sản xuất và tiêu dùng đồng thời, nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau mà phải tiến hành cùng lúc.
Dịch vụ thẻ thanh toán không thể cất dữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh cung cầu thị trƣờng nhƣ các sản phẩm vật chất khác… Ngoài những đặc điểm chung ra thì dịch vụ thẻ thanh toán còn mang những đặc điểm riêng: Là sản phẩm mang tính tài chính nên nó đòi hỏi sự bảo mật và tính an toàn cao. Là sản phẩm đƣợc phát triển trên sự phát triển của công nghệ cao nhất là công nghệ thông tin. -7- Sản phẩm thẻ mang tính liên kết khép kín với các dịch vụ khác của ngân hàng nhƣ tài khoản ngân hàng, dịch vụ internet…. Hiện tại với thị trƣờng Việt Nam thì dịch vụ thẻ thanh toán còn mang một đặc điểm về văn hoá tức là nó thể hiện sự sang trọng hay một sự đánh giá “hiện đại” của xã hội dành cho sản phẩm này.
Do thẻ đƣợc tạo trên nền tảng công nghệ cao nên nó đòi hỏi ngƣời sử dụng phải có kiến thức nhất định.Các loại thẻ thanh toán tại các Ngân hàng thƣơng mại 1.1- Phân loại theo đặc tính kĩ thuật + Thẻ khắc chữ nổi (Imbosed Card): Là loại thẻ đƣợc làm dựa trên kĩ thuật khắc chữ nổi. Đó chính là tấm thẻ đầu tiên đƣợc sản xuất theo công nghệ này. Trên bề mặt thẻ đƣợc khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay ngƣời ta không còn dùng nó nữa vì kĩ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị giả mạo.
+ Thẻ băng từ (Magnetic Strip): Thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kĩ thuật thƣ tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đƣợc sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhƣng dễ bị lợi dụng vì thông tin trong thẻ không tự mã hoá đƣợc và chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp. + Thẻ chíp (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán đƣợc dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học nhờ gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc giống nhƣ một máy tính hoàn hảo. Thẻ có nhiều nhóm với dung lƣợng nhớ của “chip” điện tử khác nhau.2- Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ: + Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Đây là loại thẻ đƣợc sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. + Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Đó là thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành: Diners Club, Amex…Đó cũng có thể là thẻ đƣợc phát hành bởi các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn… -8- 1.3- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: + Thẻ tín dụng: Là loại thẻ sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ đƣợc phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn, máy bay…có chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng đƣợc xem nhƣ thẻ thanh toán vì chúng thƣờng đƣợc phát hành bởi các ngân hàng. Các ngân hàng quy định một hạn mức tín dụng nhất định cho chủ thẻ và chỉ đƣợc chi tiêu trong hạn mức đã cho.
Hạn mức tín dụng là hạn mức tuần hoàn do đó khi khách hàng đã thanh toán thì hạn mức sẽ tự động đƣợc phục hồi, điều này đồng nghĩa với việc khách hàng đƣợc ngân hàng cấp một khoản vay mới. + Thẻ ghi nợ: Đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Khi mua hàng hoá dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử tại các cửa hàng, khách sạn và đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dƣ hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.4-Phân loại theo phạm vi lãnh thổ: + Thẻ trong nƣớc: Là thẻ đƣợc giới hạn số dƣ trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nƣớc đó.
Có 2 loại thẻ: Local use only Card: Là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nƣớc phát hành, chỉ đƣợc sử dụng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó.