Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thanh toán trong nƣớc qua Ngân hàng. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán trong nƣớc tại LienVietPostBank. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán trong nƣớc tại LienVietPostBank. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƢỚC QUA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về dịch vụ thanh toán trong nƣớc qua Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm dịch vụ thanh toán trong nƣớc qua Ngân hàng thƣơng mại Khái niệm dịch vụ ngân hàng “Dịch vụ” đƣợc hiểu là “Các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.”[3] Dịch vụ là các hoạt động của con ngƣời đƣợc kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm đƣợc. Cách hiểu này nêu đƣợc hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ: Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm; thứ hai, dịch vụ là vô hình (phi vật chất), khác với sản phẩm hàng hóa là hữu hình. Theo tác giả thì cả hai định nghĩa trên vẫn chƣa thỏa đáng mà phải kết hợp cả hai mới đầy đủ.
Đó là: Dịch vụ là các hoạt động của con ngƣời đƣợc kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm đƣợc để phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của con ngƣời. Dịch vụ ngân hàng: (i) Theo truyền thống (trƣớc đây) là “các dịch vụ đã đƣợc thực hiện trong nhiều năm, trên nền công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng, thuộc giai đoạn cuối cùng trong vòng đời của một sản phẩm dịch vụ”[2]; (ii) Theo Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO): “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính 7 khác (ngoại trừ bảo hiểm)”[2].Nhƣ vậy, DVNH là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ tài chính. Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) đã đƣợc ký kết cũng hiểu và phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ ngân hàng) tƣơng tự nhƣ WTO.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DVNH nhƣng vẫn chƣa có văn bản pháp lý nào đƣa ra khái niệm rõ ràng. Có quan điểm cho rằng bất cứ hoạt động sinh lời nào của NHTM ngoài hoạt động tín dụng đều đƣợc gọi là hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên, theo một quan điểm khác phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, với cách thức phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục thống kê Việt Nam, cách phân loại các ngành dịch vụ tài chính trong Hiệp định về thƣơng mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services - GATS) của WTO thì tất cả các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, thanh toán… mà NHTM cung ứng cho nền kinh tế đều đƣợc xem là hoạt động dịch vụ. Nhƣ vậy, dịch vụ ngân hàng sẽ đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay)[8].
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn đồng tình với cách phân loại dịch vụ theo nghĩa rộng, DVNH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân (nhƣng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của các tổ chức tín dụng). Quan niệm này đƣợc sử dụng để xem xét lĩnh vực DVNH trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cũng nhƣ của nhiều nƣớc phát triển trên Thế giới. 8 Khái niệm dịch vụ thanh toán qua ngân hàng: Dịch vụ thanh toán Ngân hàng là: Dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng để quan hệ thanh toán đƣợc thực hiện và tiến hành bằng cách trích chuyền tiền từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị thông qua ngân hàng.
Ngân hàng là chủ thể cung ứng dịch vụ thanh toán[1]. Hoạt động thanh toán là một hoạt động dịch vụ quan trọng của NHTM.Vì nó là một trong những nhân tố quan trọng giúp cho ngân hàng tiếp cận đƣợc với khách hàng nhất là trong thời đại ngày nay việc thanh toán không dùng tiền mặt với những ƣu điểm nổi trội đã đƣợc xã hội tin dùng. Đồng thời phí dịch vụ thanh toán cũng là một khoản thu rất đáng kể đối với NHTM. Đặc điểm dịch vụ thanh toán trong nƣớc qua NHTM Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng mà chủ yếu là thanh toán không dùng tiền mặt có ba đặc điểm: Sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tƣ hàng hóa cả về thời gian và không gian, thông thƣờng sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của vật tƣ, hàng hoá là không có sự ăn khớp với nhau, đây là đặc điểm lớn nhất, nổi bật nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt.
Việc giao hàng đƣợc tiến hành ở nơi này, trong thời gian này, nhƣng việc thanh toán đƣợc thực hiện ở nơi khác, trong một thời gian khác, sự tách rời giữa tiền và hàng là điều không thể tránh khỏi. Trong thanh toán qua ngân hàng, vật môi giới (tiền mặt) chỉ xuất hiện dƣới hình thức kế toán (tiền ghi sổ) và đƣợc ghi chép trên các chứng từ, sổ kế toán (gọi là tiền chuyển khoản).Đây là đặc điểm riêng của thanh toán qua 9 ngân hàng. Với đặc điểm này thì mỗi bên tham gia thanh toán (chủ yếu là ngƣời mua) buộc phải mở tài khoản tại ngân hàng và phải có tiền trên tài khoản đó, bởi vì nếu không nhƣ vậy thì việc thanh toán sẽ không thực hiện đƣợc. Trong thanh toán qua ngân hàng, vai trò của ngân hàng kể cả NHTW và NHTM là ngƣời tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán, đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển hệ thống thanh toán của một quốc gia.
Phân loại dịch vụ thanh toán trong nƣớc qua NHTM Căn cứ và đặc điểm thanh toán Thanh toán dùng tiền mặt là việc tổ chức, cá nhân sử dụng tiền mặt để trực tiếp chi trả hoặc thực hiện các nghĩa vụ trả tiền khác trong các giao dịch thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt là tất cả các hình thức trả tiền qua tài khoản ngân hàng (hoặc các trung gian thanh toán khác) thực hiện bằng các bút toán chuyển khoản hoặc bù trừ công nợ. Thanh toán hỗn hợp là một dạng thanh toán kết hợp của hai hình thức trên. Căn cứ vào phương tiện thanh toán Thanh toán bằng tiền mặt Tiền mặt là một phƣơng tiện trao đổi có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới.
Từ những hình thái giá trị ban đầu giản đơn, nhu cầu trao đổi và sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá hình thái tiền đã ra đời. Tiền ra đời đã mang ba chức năng cơ bản là Phƣơng tiện trao đổi, Đơn vị đo lƣờng, Cất trữ. Trong đó, phƣơng tiện trao đổi nổi bật lên với sự tiện lợi trong các giao dịch của nền kinh tế. Thanh toán bằng Séc 10 “Séc” là một lệnh viết vô điều kiện do chủ tài khoản phát hành để ngân hàng hoặc định chế tài chính khác đƣợc phép thanh toán séc trả một số tiền cho ngƣời thụ hƣởng là chính mình hoặc ngƣời thứ ba[1].
Séc là một phƣơng tiện thanh toán đƣợc sử dụng rộng rãi trong các nƣớc có hệ thống ngân hàng phát triển cao.Hiện nay séc là phƣơng tiện chitrả đƣợc dùng hầu nhƣ phổ biến trong thanh toán nội địa của tất cả các nƣớc. Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi Uỷ nhiệm chi (UNC) là lệnh chi do chủ tài khoản lập theo mẫu in sẵn để yêu cầu ngân hàng nơi mình mở tài khoản tiền gửi trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho ngƣời thụ hƣởng[1]. UNC đƣợc áp dụng trong thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền của ngƣời sử dụng DVTT trong cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụthanh toán. Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu Ủy nhiệm thu (UNT) là là giấy đòi tiền do ngƣời thụ hƣởng lập gửi cho ngân hàng để ủy quyền cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá dịch vụđã cung ứng[1].
UNT đƣợc áp dụng phổ biến trong mọi trƣờng hợp với điều kiện hai bên mua và bán phải thống nhất với nhau và phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về việc áp dụng thể thức uỷ nhiệm thu để ngân hàng làm căn cứ tổ chức thực hiện thanh toán. Thanh toán thư tín dụng trong nước Thƣ tín dụng đƣợc dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền đã giao theo hợp đồng hoặc đơn hàng đã ký. Ngƣời mua muốn đƣợc ngân hàng đồng ý mở thƣ tín dụng để nhập mua hàng hóa, phải dùng tiền của mình hoặc vay ngân hàng lƣu ký riêng để đảm 11 bảo thanh toán cho thƣ tín dụng. Nhƣ vậy, sử dụng phƣơng tiện thanh toán này, quyền lợi của bên bán sẽđƣợc bảo đảm, vì nó đòi hỏi bên mua phải chuẩn bị trƣớc phƣơng tiện thanh toán mới nhận đƣợc hàng.
Do đặc điểm an toàn và tính chính xác cao nên thanh toán bằng thƣ tín dụng đƣợc sử dụng khá phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế. Thanh toán bằng thẻ Thẻ thanh toán (thẻ ngân hàng) là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng để trả tiền hàng hoá, dịch vu, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay tại các quầy trả tiền tự động (ATM)[1]. Thẻ thanh toán có thể bao gồm nhiều loại và đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Về phƣơng diện kế toán, cần quan tâm đến 2 cách phân loại thẻ thanh toán sau đây: (i) Căn cứ vào công dụng, thẻ thanh toán có thể đƣợc phân thành 3 loại: Thẻ rút tiền mặt: là loại thẻ chỉ để dùng rút tiền mặt hoặc tại các điểmchi trả thẻ của ngân hàng hoặc tại các máy rút tiền tự động.