CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Từ khi con người bắt đầu biết sử dụng tiền như một phương tiện trao đổi và phương tiện thanh toán, các nhu cầu tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển một loại hình trung gian tài chính chuyên kinh doanh về tiền tệ. Đó là các ngân hàng thương mại.
NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Theo Pháp lệnh số 38-LTC/HĐNN8 ban hành ngày24/05/1990 về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính thì “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” [7, tr1]. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12banhành16/6/2010“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [15, tr 2].
Ngân hàng ra đời ở nước ta năm1951 với tên gọi “Ngân hàng quốc gia Việt Nam”. Sự ra đời ngân hàng Việt Nam mang nét đặc trưng riêng biệt: Ngân hàng nhà nước ra đời vừa làm chức năng quản lý tiền tệ vừa làm chức năng của NHTM (ngân hàng một cấp). Cho đến 26/03/1988, nghị định 53/HĐBT quyết định chia hệ thống 5 ngân hàng Việt Nam thành 2 cấp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ(Ngân hàng nhà nước) và chức năng kinh doanh tiền tệ(Ngân hàng thương mại). Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, ngành ngân hàng đã có những phát triển vượt bậc góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.
Ngành ngân hàng ngày càng hiện đại về công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng, tham gia rộng rãi vào thị trường tiền tệ trong khu vực và quốc tế. Dịch vụ của ngân hàng thương mại Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của Ngân hàng với cá nhân và tổ chức. Ở Việt Nam luật các tổ chức tín dụng năm 1997 cụm từ “ dịch vụ ngân hàng” cũng đã được đề cập tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 nhưng không có định nghĩa cụ thể “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này nhằm mục đích cấp tín dụng và cung ưng dịch vụ thanh toán” [14, tr 4]. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước số 46/2010/QH12 ban hành ngày16/6/2010 (Khoản 1, Điều 6) quy định “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một trong các nghiệp vụ sau đây:(a) nhận tiền gửi; (b) Cấp tín dụng; (c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [13, tr 3].
Như vậy ở Việt Nam việc phân biệt rõ ràng thế nào là dịch vụ ngân hàng vẫn chưa có khái niệm chính thức. Có nhiều ý kiến cho rằng tất cả các công việc nghiệp vụ NHTM (hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối…) đều được gọi là dịch vụ ngân hàng. Quan điểm này được hình thành trên quan điểm của thế giới, khi dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, thanh toán… của cá nhân và tổ chức. Dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau: - Tính đồng thờicủa dịch vụ ngân hàng: Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ của ngân hàng luôn xảy ra đồng thời và không tách rời nhau.
- Sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính bổ trợ cao: Đây là một đặc điểm 6 riêng của kinh doanh ngân hàng. Mỗi sản phẩm dựa trên sự phát triển của sản phẩm dịch vụ truyền thống và kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ mới. - Tính vô hình: Dịch vụ ngân hàng không có hình thái vật chất cụ thể. Khách hàng tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thông qua các hoạt động giao tiếp và tiếp nhận thông tin và kết quả là nhu cầu được đáp ứng, khách hàng chỉ có thể đánh giá dịch vụ ngân hàng sau khi sử dụng chúng.
- Tính không ổn định và khó xác định khối lượng: Chất lượng dịch vụ ngân hàng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả về khách quan như trình độ thụ hưởng của khách hàng, của thói quen, tập quán… đến các yếu tố chủ quan như uy tín vị thế của ngân hàng cung cấp dịch vụ, trình độ cán bộ và chính sách marketing… do vậy có thể nói dịch vụ ngân hàng không ổn định và khó xác định khối lượng chính xác. - Chi phí bình quân trên mỗi giao dịch cho các dịch vụ ngân hàng cá nhân cao: Dịch vụ ngân hàng cho khách hàng cá nhân bao gồm nhiều món giao dịch với giá trị của mỗi giá trị giao dịch không lớn nên chi phí bình quân của mỗi giao dịch khá cao như: thanh toán tiền hàng, chuyển khoản, chuyển vốn vì để phục vụ mỗi đối tượng khách hàng cá nhân, ngân hàng phải tốn chi phí như một khách hàng doanh nghiệp. - Dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng cá nhân muốn phát triển tốt đòi hỏi hạ tầng công nghệ và kỹ thuật hiện đại: Do đặc trưng của đối tượng khách hàng cá nhân nhạy cảm với chính sách marketing nên họ dễ dàng thay đổi nhà cung cấp dịch vụ khi sản phẩm cung cấp không tạo được sự khác biệt và có tính cạnh tranh cao. - Dịch vụ ngân hàng với nhu cầu mang tính thời điểm: Các dịch vụ mà mọi cá nhân mong muốn ngân hàng cấp cho mình có giá trị trong một thời điểm nhất định.
Cùng với sự thay đổi của các điều kiên xung quanh, cuộc sống của họ, nhu cầu của họ cũng sẽ thay đổi. Nếu ngân hàng nào nhanh nhạy cho nắm bắt trước các như cầu của khách hàng để từ đó khai thác họ làm thỏa mãn họ thì sẽ giành phần thắng trong cuộc tranh này. - Độ rủi ro của dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng cá nhân thấp: Đây là đặc điểm khách biệt của dịch vụ khách hàng cá nhân và dịch vụ với khách hàng doanh nghiệp. Trong khi đối tượng của các dịch vụ tại các ngân hàng tập trung vào 7 đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế, trung gian tài chính với giá trị giao dịch lớn, độ rủi ro cáo thì dịch vụ khách hàng cá nhân với số lượng khách hàng cá nhân lớn rủi ro phân tán rất thấp và là một trong những mảng đêm lại doanh thu ổn định và an toàn cho các ngân hàng thương mại [9].
Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng Ngành ngân hàng không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất hoặc tinh thần cho xã hội nên được xếp vào ngành dịch vụ. Theo Luật các tổ chức tín dụng thì tôn chỉ hoạt động của các ngân hàng là “Đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ cho nền kinh tế và dân cư”. Do đó, hoạt động ngân hàng được chia làm hai loại có tính chất hoàn toàn khác nhau nhưng có liên quan với nhau là hoạt động kinh doanh tiền tệ (hoạt động nghiệp vụ) và dịch vụ ngân hàng.
Những hoạt động huy động vốn hoặc cung ứng vốn cho khách hàng gọi chung là hoạt động kinh doanh tiền tệ và gọi tắt là nghiệp vụ ngân hàng. Vốn bằng tiền là đối tượng mua bán quyền sử dụng vốn trong nghiệp vụ ngân hàng. Trong đó, ngân hàng là một bên chủ thể và chủ thể còn lại là khách hàng của ngân hàng. Hoạt động này là quan hệ mua - bán quyền sử dụng vốn tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và một bên là khách hàng của ngân hàng, đó là đặc trưng cơ bản của nghiệp vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc làm tăng thu nhập cho ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụngDịch vụ tín dụng là dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn, tài sản để phục vụ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của khách hàng. Dịch vụ tín dụng bao gồm: cho vay, thấu chi, huy động tiền gửi, cho thuê tài chính. Theo tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu thì dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không 8 phải là những dịch vụ tín dụng.
Dịch vụ phi tín dụng là loại hình dịch vụ khi được cung cấp bởi các ngân hàng mà không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến việc cung cấp và thu hồi vốn đối với khách hàng. Từ quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm về dịch vụ phi tín dụng như sau: Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định mà không bao gồm dịch vụ tín dụng. Đặc điểm dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ ngân hàng thoả mãn các đặc điểm sau: - Là các dịch vụ không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan việc cung cấp và thu hồi tín dụng đối với khách hàng Đây là đặc điểm để phân biệt rõ nhất giữa dịch vụ phi tín dụng và dịch vụ tín dụng.