Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Vĩnh Phúc 9 ƢƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH V NGÂN HÀNG N TỬ T ƢƠ I 1. Tổng quan về dịch vụ ngân h ng điện tử của ngân h ng thƣơng mại 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM Jamil và cộng sự (2018) định nghĩa: „dịch vụ N ĐT là dịch vụ mà qua đó các giao dịch ngân hàng được cung cấp qua một loạt các ênh điện tử như Internet, điện thoại, tivi, máy tính. Dịch vụ này giúp khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng của mình tại bất kỳ địa điểm nào mà không cần phải đến ngân hàng, và không bị giới hạn bởi thời gian làm việc của ngân hàng, với những giao dịch được thực hiện một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí”.
Theo Hamidianpour và cộng sự (2016): “N ĐT là một trường hợp cụ thể của inh doanh điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Nó bao gồm những dịch vụ như máy rút tiền tự đồng (ATM), các điểm chấp nhận thẻ (POS), internet banking, mobile ban ing và phone ban ing”. Nguyễn Ngân Hà (2019) cho rằng: “N ĐT là dịch vụ ngân hàng điện đại cho phép khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ở bất ì đâu, bất kì lúc nào mà không cần phải đến trực tiếp ngân hàng. Dịch vụ N ĐT ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng với người dùng do những lợi ích mà dịch vụ mang lại”.
Theo Lê Châu Phú, Đào Duy uân (2019): “N ĐT là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính, ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. Hiện nay, N ĐT đã được nhiều ngân hàng sử dụng, cho phép khách hàng có thế thực hiện các giao dịch trực tuyến thông qua các phương tiện như máy vi tính, điện thoại di động hay các thiết bị trợ giúp cá nhân hác.Qua đó, hách hàng có thể truy cập vào mọi thời điểm mà không cần phải đến ngân hàng”. Theo Nguyễn Văn Vẹn (2020): “N ĐT là việc sử dụng thiết bị đầu cuối máy vi tính kết nối internet hoặc thiết bị không dây, chẳng hạn như điện thoại di động, điện thoại thông minh,… cùng một mạng lưới không dây có thể truy cập thông tin và tiến hành các giao dịch dịch vụ ngân hàng. N ĐT có thể hiểu là dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua ênh điện tử cũng như các hoản thanh toán giá trị lớn và 10 dịch vụ ngân hàng bán buôn hác được thực hiện thông qua điện tử, sử dụng kênh giao dịch điện tử để sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và là một nhánh của tài chính điện tử”.
Như vậy, dù có nhiều khái niệm về dịch vụ N ĐT, nhưng nhìn chung, các nhà khoa học đều đồng thuận rằng dịch vụ N ĐT, theo nghĩa đơn giản nhất thường được hiểu là sự kết hợp hoạt động ngân hàng với hệ thống Internet - kết quả tất yếu của quá trình ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, điện tử và tin học vào hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một số đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử - Tính không hiện hữu:“N ĐT là một loại hình dịch vụ do vậy không tồn tại ở dạng vật chất cụ thể mà được thể hiện đánh giá thông qua số lượng giao dịch thực hiện, tốc độ xử lý, mức độ an toàn…” - Tính không ổn định và hó xác định:”N ĐT được cấu thành bởi các yêu tố: công nghệ thông tin, nguồn lực ngân hàng, đội ngũ nhân lực. Bên cạnh đó, dịch vụ còn được sử dụng hông đồng nhất về điều kiện ở những không gian khác nhau, với cách thức thực hiện và thời gian hoàn thành khác nhau. Do các yếu tố đó thường xuyên biến đổi tạo nên tính không ổn định và hó xác định của sản phẩm.” - Tính không thể tách biệt: Quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra song song với quá trình cung ứng dịch vụ của ngân hàng, có sự tham gia trực tiếp của khách hàng tại bất kì thời điểm nào khi khách hàng có nhu cầu.
Các sản phẩm của dịch vụ ngân hàng điện tử a) Dịch vụ Internet Banking Theo Nguyễn Thị Hoàng Mỹ, Lưu Đức Thịnh (2011), “dịch vụ Internet Banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng, thanh toán hóa đơn, chuyển gửi tiết kiệm, vấn tin số dư, vấn tin lịch sử giao dịch, tra cứu tỷ giá, lãi suất, địa chỉ ATM… thông qua các tài hoản của mình cũng như iểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để tham gia, khách hàng phải đăng ý dịch vụ này với ngân hàng và được ngân hàng cấp mật mã, sau đó hách hàng dùng mật mã này truy cập vào 11 website của ngân hàng và thực hiện các giao dịch tài chính, truy cập thông tin c ần thiết, hoặc thực hiện mua hàng và thanh toán với ngân hàng. Các N TM thường cung cấp các tiện ích dịch vụ Internet Banking cho hách hàng như sau: - Gói dịch vụ phi tài chính: Bao gồm các tính năng về truy vấn thông tin tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền vay, tài khoản thấu chi, tiền gửi có kỳ hạn, vấn tin lãi suất, tỷ giá, địa điểm đặt máy ATM, POS,… - Gói dịch vụ tài chính: + Chuyển khoản trong nội bộ ngân hàng hoặc liên ngân hàng. + Chuyển tiền nhận bằng CMND/Hộ chiếu trong và ngoài hệ thống.
+ Thanh toán hoá đơn trực tuyến (tiền diện, tiền nước, tiền điện thoại,. + Dịch vụ tiền gửi tiết kiệm online: Là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cho phép khách hàng gửi tiền trực tiếp từ máy tính cá nhân được kết nối Internet. Đây là một loại hình dịch vụ rất mới và rất được các ngân hàng quan tâm phát triển trong giao đoạn tới. Loại hình này cung cấp cho khách hàng các kỳ hạn gửi tiền vay đa dạng, được cung cấp dịch vụ bảo hiểm tiền gửi.
Khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm online có thể sử dụng số dư trên tài hoản tiền gửi để thế chấp, cầm cố vay vốn tại các tổ chức tín dụng hoặc có thể chuyển nhượng tài khoản tiền gửi tiết kiệm. + Dịch vụ đăng ý vay online: Đây cũng là một trong những sản phẩm mới của các ngân hàng trong thời gian gần đây. Cũng giống như dịch vụ tiền gửi tiết kiệm online, khách hàng không cần phải trực tiếp đến ngân hàng để thực hiện các khoản vay. Thủ tục vay, điều kiện được vay, các giấy tờ cần xác nhận thông tin của khách hàng đều được đặt tại trang web của các ngân hàng.
Để đảm bảo độ xác thực của các nghiệp vụ thuộc dịch vụ Internet Banking, tại các N TM thường có 2 phương thức xác thực chủ yếu được thực hiện: (i) Xác thực bằng SMS: Trong quá trình giao dịch thanh toán và chuyển tiền, Ngân hàng sẽ gửi một tin nhắn có mã xác thực đến số di động mà hách hàng đã cung cấp để hoàn tất giao dịch; (ii) Xác thực bằng thiết bị Token: Token là thiết bị bảo mật điện tử, thiết lập mật khẩu ngẫu nhiên, dùng để thay thế chữ ký của khách hàng. Mỗi mã số 12 của Token chỉ có hiệu lực duy nhất với một lần giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định. Token sẽ tự động thay đổi mật khẩu sau đó”. b) Dịch vụ Mobile Banking Theo Lê Hoàng Bá Huyền, Lê Thị ương Quỳnh (2018), “đây là ênh dịch vụ ngân hàng hiện đại, cho phép khách hàng sử dụng điện thoại di động/máy tính bảng có kết nối Internet để thực hiện các giao dịch với ngân hàng.
Đây là hình thức thanh toán trực tuyến qua điện thoại di động (khách hàng không cần phải đến ngân hàng mà vẫn có thể tiếp cận mọi dịch vụ 24/7 và ở tất cả mọi nơi). Phương thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những dịch vụ tự động hông có người phục vụ. Để trở thành thành viên, khách hàng cần cung cấp: số điện thoại di động, tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán. Sau đó, hách hàng sẽ được cung cấp một mã số định danh (ID).
Nó giúp cho việc cung cấp thông tin hách hàng hi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn. Ngoài ra, hách hàng còn được nhận một mã số cá nhân (PIN) để khách hàng xác nhận giao dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ yêu cầu. Dịch vụ Mobile Banking của các N TM thường có những chức năng cơ bản như sau: - Quản lý tài khoản: tạo, hủy, thay đổi và kiểm tra trạng thái tài khoản thông qua điện thoại di động. - Cân đối tài khoản: kiểm tra cân đối cho một hay nhiều tài khoản.
- Chuyển khoản: thực hiện chuyển khoản giữa các tài khoản trong cùng hệ thống hoặc giữa các ngân hàng khác nhau. - Thanh toán dịch vụ: thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại, bảo hiểm. - Mua bán: thanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa thông thường thay cho tiền mặt hoặc thẻ tín dụng. - Xem thông tin: tỷ giá, chứng khoán, số dư, phát sinh giao dịch… - Nạp tiền: nạp tiền cho các thẻ tín dụng, cho điện thoại di động…” c) Dịch vụ Phone Banking 13 Theo Đỗ Thị Ngọc Anh (2016), “là dịch vụ cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại cố định.
Khách hàng có thể thực hiện các lệnh chuyển tiền, thanh toán hoá đơn dịch vụ, tìm hiểu các thông tin về tỷ giá hối đoái, giá vàng, giá chứng khoán, các giao dịch gần nhất và số dư tài hoản hiện tại của mình mọi lúc mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính. Thông thường, các NHTM sẽ cung cấp một số đường dây điện thoại cố định. Khách hàng có thể gọi vào các số điện thoại này để biết thông tin sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cung cấp. Đây là hệ thống trả lời tự động, hoạt động 24/24 giờ.
Để sử dụng dịch vụ, khách hàng bấm các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định để yêu cầu hệ thống trả lời các thông tin cần thiết như: cung cấp tất cả các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng một cách đầy đủ, cập nhật, cung cấp các thông tin hữu ích về các sản phẩm dịch vụ mới, thanh toán hoá đơn và chuyển tiền, tiếp nhận qua điện thoại các khiếu nại, thắc mắc từ khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.