CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan về dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Khái niệm Với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) như hiện nay, sự ra đời của ngân hàng số và ngân hàng điện tử (NHĐT) được xem là một bước tiến mới trong lĩnh vực ngân hàng.
Đặc biệt, các tổ chức tài chính đã và đang không ngừng cải thiện, củng cố dịch vụ NHĐT để nâng cao khả năng cạnh tranh so với đối thủ trên thị trường. Khái niệm dịch vụ NHĐT sớm xuất hiện trên thế giới vào đầu những năm 1980. Tiền thân của dịch vụ này là việc khách hàng sử dụng đường dây điện thoại và các thiết bị điện tử để truy cập hệ thống ngân hàng. Mỹ và châu Âu là những nơi đầu tiên áp dụng các hình thức của NHĐT, biểu hiện bằng việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng từ xa thông qua các thiết bị như điện thoại, máy tính… Ở Việt Nam, NHĐT bắt đầu được biết đến và có những nền móng đầu tiên vào giữa những năm 2000.
Tuy nhiên, phải đến đầu thập niên 2010, dưới sự phát triển và tác động của cuộc Cách mạng 4.0 và đặc biệt những năm 2019-2021 ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19, xu hướng sử dụng NHĐT mới thực sự bùng nổ. Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ NHĐT, như: “Dịch vụ NHĐT được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây, … Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với CNTT và điện tử viễn thông.” (Hoàng Nguyên Khai, 2003) Theo Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/7/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN): “Hoạt động Ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng 10 được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.” Khái niệm về dịch vụ Ngân hàng điện tử có thể hiểu tổng quát như sau: Dịch vụ Ngân hàng điện tử là các dịch vụ cung cấp cho khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức) thông qua các kênh phân phối điện tử như internet, điện thoại, các thiết bị thanh toán trực tuyến… mà không cần khách hàng đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng.
Đặc điểm Với đặc điểm nổi trội, mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng nên các dịch vụ NHĐT ngày càng được ưu chuộng. Các đặc điểm cơ bản của dịch vụ NHĐT bao gồm: Sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú: Ban đầu, dịch vụ NHĐT chỉ cung cấp những dịch vụ đơn giản như truy vấn thông tin, liệt kê giao dịch tài khoản. Cho đến nay, dịch vụ NHĐT còn cung cấp khách hàng những dịch vụ nâng cao như chuyển tiền, mở tài khoản, gửi và tất toán sổ tiết kiệm, thu thuế điện tử vào ngân sách nhà nước, mua vé máy bay, thanh toán hóa đơn (điện, nước, truyền hình cáp.), lập thư mở LC, Có sẳn các chứng từ giao dịch trước khi đến ngân hàng giao dịch như giấy nộp tiền, rút tiền và ủy nhiệm chi cho cá nhân hay công ty. Dịch vụ NHĐT còn có thể cung cấp dịch vụ trọn gói: Tức là ngân hàng có thể liên kết với công ty Bảo hiểm, công ty Chứng khoán và các công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc một nhóm khách hàng về dịch vụ liên quan.
Các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện, chính xác: Dịch vụ NHĐT giúp khách hàng có thể liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24/7) và ở bất kỳ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với khách hàng có ít thời gian đến chi nhánh trực tiếp giao dịch ngân hàng, các khách hàng nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân 11 có số lượng giao dịch với ngân hàng không nhiều, số tiền giao dịch mỗi lần không lớn. Ngoài ra, dịch vụ NHĐT thông qua Napas có thể chuyển tiền khác ngân hàng nhanh chóng trong vòng ít phút và có thể kiểm tra số tài khoản của ngân hàng thụ hưởng chính xác hay không. Đây là lợi thế mà các giao dịch kiểu giao dịch truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với dịch vụ NHĐT.
Chi phí giao dịch thấp: Với các thiết bị điện tử viễn thông ngày một phát triển thì việc cung ứng dịch vụ của ngân hàng không còn giới hạn về thời gian, không gian, từ đó mở rộng quy mô của ngân hàng. Theo đó ngân hàng có thể cắt giảm một số chi phí hoạt động như chi phí xây dựng, thuê văn phòng, chi phí trả lương cho nhân viên, các chi phí hành chính, giấy tờ hoạch toán, các chi phí liên quan hoạt động giao dịch, thanh toán, kiểm đếm, chi phí đi lại cũng được giảm thiểu. Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh: NHĐT ra đời là giải pháp của ngân hàng giúp mở rộng phạm vi hoạt động không chỉ trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà còn ở mọi nơi trên thế. Với công cụ chủ yếu là Internet và thiết bị điện tử giúp cung cấp dịch vụ ngân hàng ở bất cứ đâu trên thế giới tại mọi thời điểm.
Điều này giúp ngân hàng thương mại thực hiện chiến lược “toàn cầu hóa”, tăng khả năng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Việc cung cấp các dịch vụ NHĐT ngày càng nhiều tiện ích, đặc biệt là khả năng phục vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi, nhanh chóng, chính xác giúp ngân hàng thu hút khách hàng, nâng cao thị phần, vừa mở rộng phạm vi hoạt động vừa khẳng định thương hiệu và tăng khả năng cạnh tranh. Vốn đầu tư lớn: Để xây dựng một hệ thống NHĐT hoàn chỉnh, ngân hàng cần phải bỏ ra một số vốn đầu tư tương đối lớn. Bên cạnh chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ hiện đại, an toàn, ngân hàng cũng cần phải bỏ ra một khoản chi phí không ít cho việc bảo trì, sửa chữa, dự phòng, cải thiện, đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ… Tiềm ẩn nhiều rủi ro: Quan trọng trong dịch vụ NHĐT là vấn đề an toàn và bảo mật.
Nó liên quan đến hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của ngân hàng. Do tính chất phức tạp của ứng dụng công nghệ thông tin và tốc độ phát triển nhanh chóng của dịch vụ NHĐT mà mức độ rủi ro trong kinh doanh, chiến lược phát triển, bảo mật an ninh, uy tín và môi trường pháp lý trong hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia 12 tăng. Các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng điện tử Dịnh vụ Internet Banking “Internet banking là dịch vụ ngân hàng trực tuyến thực hiện nhờ kết nối internet trên điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng. Tại bất cứ nơi nào có thể truy cập internet và bất cứ lúc nào khách hàng chỉ cần một công cụ duyệt web là có thể sử dụng được Internet Banking.” (Cao Thị Thủy, 2016) Dịch vụ Internet banking cung cấp đầy đủ và toàn diện nhất các loại hình dịch vụ NHĐT cho khách hàng từ việc tham khảo thông tin thị trường, tỷ giá ngoại tệ, lãi suất, hay các sản phẩm dịch vụ, xem thông tin giao dịch, in sao kê, truy vấn số dư, thanh toán hóa đơn, chuyển khoản.
Hiện nay, việc sử dụng Internet Banking ngày càng nhiều trong thanh toán trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi trong mua sắm trên các trang mạng điện tử. Với dịch vụ Internet Banking khoảng cách về không gian và thời gian giữa ngân hàng với khách hàng dường như được xóa bỏ, các giao dịch được xử lý trực tuyến, nhanh chóng, hiệu quả. Dịch vụ Mobile Banking “Mobile Banking là loại dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng điện thoại di động.” (Cao Thị Thủy, 2016) Đây là một dịch vụ ngân hàng trực tuyến thông qua ứng dụng của ngân hàng trên điện thoại thông minh. Khách hàng chỉ cần cài đặt ứng dụng của ngân hàng về điện thoại là có thể sử dụng được các dịch vụ này.
Mobile Banking có các tính năng tương tự với Internet Banking như chuyển khoản, gửi tiết kiệm online, thanh toán hóa đơn… Không chỉ thực hiện chức năng truy cập thông tin hay thực hiện các giao dịch thông thường, khách hàng còn có thể thực hiện chức năng thanh toán hoặc chuyển tiền bằng cách quét QR code (Quick response code - mã phản hồi nhanh, mã vạch ma trận). QR Code sẽ được kết hợp với thanh toán điện tử thay vì chỉ dùng để quét ra thông tin về website, số điện thoại, địa chỉ… của doanh nghiệp như trước đây. Người 13 tiêu dùng có thể mua hàng trên website, shopping tại các trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích… mà không cần dùng tiền mặt, thẻ ATM hay thẻ Visa, MasterCard. Dịch vụ SMS Banking “SMS Banking là dịch vụ NHĐT thực hiện cung cấp thông tin qua tin nhắn điện thoại.” (Cao Thị Thủy, 2016) Ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu các thông tin được gửi qua SMS Banking là thông báo biến động số dư trong tài khoản của người dùng.
Ngoài ra, bằng việc soạn các cú pháp tin nhắn theo mẫu, người dùng có thể thực hiện các tác vụ và tiện ích tài chính khác thông qua dịch vụ này. Dịch vụ Call Center Nếu các dịch vụ trên cho phép bạn trực tiếp thao tác thay đổi đối với tài khoản của mình thì Call Center giúp khách hàng kiểm tra và thực hiện giao dịch thông qua đầu số điện thoại cố định của ngân hàng. Call Center còn mang một số tính năng phổ biến như truy vấn tài khoản, kê khai giao dịch, thanh toán, chuyển tiền, tư vấn sản phẩm dịch vụ của ngân hàng và giải đáp thắc mắc, khiếu nại mà khách hàng đặt ra. Dịch vụ ATM Banking ATM hay máy giao dịch tự động là thiết bị viễn thông được máy tính hóa của các ngân hàng nhằm cung cấp một phương thức giao dịch ngân hàng an toàn trong môi trường công cộng mà không cần đến giao dịch viên.