CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ Ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ Ngân hàng điện tử * Khái niệm dịch vụ: Hiện nay, khái niệm dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng vẫn chưa thật sự thống nhất. “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” [22]. “Dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” [27]. Như vậy, dịch vụ có thể hiểu là một sản phẩm vô hình (phi vật chất) từ hoạt động nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. * Khái niệm dịch vụ ngân hàng: “Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầukinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… của họ, nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí” [4].
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử: “Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng” [2]. Dịch vụ ngân hàng điện tử là “các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh 10 chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử” [18]. Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện có thể bao gồm từ những sản phẩm dịch vụ truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán hóa đơn … cho đến việc phát hành, cung ứng và chấp nhận thanh toán tiền điện tử. Tất cả những dịch vụ này đều có điểm chung ở bản chất của kênh phân phối mà qua đó khách hàng tiếp cận được với các sản phẩm dịch vụ.
Dù đó là Internet banking, telephone banking, hay PC banking và sử dụng hệ thống mạng đóng (là mạng hạn chế tiếp cận trong phạm vi những người tham gia thông qua các thỏa thuận về điều kiện thành viên) hay mạng mở (là mạng không hạn chế và không có những yêu cầu về tư cách thành viên) thì đều có một điểm chung là sử dụng các kênh phân phối điện tử. Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng điện tử Từ khái niệm dịch vụ Ngân hàng điện tử có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của dịch vụ NHĐT tại NHTM nhứ: - Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng điện tử có tốc độ xử lí giao dịch nhanh chóng: Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ngắn nhất. Hiện nay thời gian xử lí cho một giao dịch ngày càng giảm, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Các ngân hàng đều chú trọng nâng cấp hệ thống core banking để có thể mang lại những dịch vụ ngân hàng điện tử ổn định nhất, có thời gian xử lí giao dịch nhanh nhất để làm hài lòng khách hàng.
- Thứ hai, dịch vụ ngân hàng điện tử không bị giới hạn về không gian, thời gian: Khách hàng không cần phải đến ngân hàng kí vào giấy tờ, viết phiếu chuyển tiền, chờ xếp hàng,. họ chỉ cần thực hiện giao dịch trên máy tính, điện thoại, gọi một cuộc điện thoại,. tại nhà, tại phòng làm việc, ở quán cà phê,. khách hàng có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian di chuyển, xếp hàng chờ giao dịch nhờ đó nắm bắt được nhiều cơ hội hơn.
Chí trong giây lát, với các phương tiện truyền dẫn hiện đại, khách hàng có thể kiểm tra được tài khoản, thanh toán phí dịch vụ, 11 chuyển khoản, thực hiện các giao dịch thanh toán tiền - mua hàng,. để kịp thời nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh - Thứ ba, dịch vụ ngân hàng điện tử có chi phí giao dịch thấp: Ngoài việc tiết kiệm được chi phí đi lại, giảm thiểu được các chi phí cơ hội do việc tiết kiệm thời gian thì nhìn trên biểu phí của một ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử luôn có mức phí thấp nhất. Điều này cũng xuất phát từ việc bản thân ngân hàng không mất các chi phí về thuê địa điểm, chi phí trả lương cho nhân viên, chi phí hành chính, chi phí cho giấy tờ hạch toán, chi phí kiểm đếm. nên khách hàng cũng được hưởng mức phí sử dụng thấp hơn rất nhiều.
- Thứ tư, dịch vụ ngân hàng điện tử gắn liền yếu tố công nghệ và chứa đựng rủi ro về công nghệ: bản thân các dịch vụ NHĐT được thiết kế dựa trên liên kết của công nghệ thông tin và dữ liệu ngân hàng. Các dịch vụ cung cấp muốn sử dụng được đều có sự tham gia Internet hay các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại, thẻ ngân hàng. Do đó dịch vụ NHĐT là dịch vụ mà gắn liền với yếu tố công nghệ thông tin, tuy nhiên nó cũng chịu rủi ro từ chính những công nghệ hiện đại đó. Công nghệ hiện đại thì cũng xuất hiện nhiều hacker, tin tặc tạo nên virus hoặc xâm nhập ăn cắp dữ liệu, do đó nếu các dịch vụ NHĐT không có lớp bảo mật thì sẽ chịu thiệt hại lớn từ rủi ro này.
- Thứ năm, dịch vụ ngân hàng điện tử có tính toàn cầu hóa: Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần tiết kiệm cho nền kinh tế và tăng khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với sự hỗ trợ của mạng internet toàn cầu, khách hàng có thể lựa chọn hàng hóa dịch vụ không giới hạn trong một nước, dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại giúp quốc tế hóa hình ảnh của ngân hàng mang lại những tiềm năng phát triển ra quốc tế. Với những đặc điểm trên có thể thấy vai trò quan trọng của dịch vụ ngân hàng điện tử đối với khách hàng, với ngân hàng và với nền kinh tế. Các kênh giao dịch của dịch vụ ngân hàng điện tử Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng.
Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến, tại Việt Nam dịch vụ ngân hàng điện tử được các NHTM cung cấp qua các kênh giao 12 dịch chính như: ngân hàng tại nhà (home-banking, Internet-banking); ngân hàng tự động qua điện thoại (Phone-banking, mobile banking); ngân hàng qua mạng không dây (Wireless-banking)… 1. Máy ATM, máy POS Đây là một trong kênh giao dịch của dịch vụ NHĐT phổ biến, là công cụ tiêu dùng không cần tiền mặt cho khách hàng. Máy rút tiền tự động (ATM - Automatic Teller Machine) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích. Máy ATM có các chức năng cơ bản như rút tiền mặt, in sao kê, chuyển khoản, ngoài ra nhiều ngân hàng đã bổ sung thêm dịch vụ bỏ tiền mặt, bỏ ngân phiếu vào tài khoản, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, mua thẻ cào điện thoại di động, bán vé hay các giao dịch điện tử trực tiếp khác cho các máy rút tiền tự động… Máy POS là công cụ hỗ trợ cho việc mua hàng không cần tiền mặt tại các cửa hàng, siêu thị, khách hàng chỉ cần có thẻ là có thể quẹt thanh toán, đồng thời cửa hàng hay còn gọi là đơn vị chấp nhận thẻ không phải kiểm đếm tiền mặt.
Tuy vậy, giao dịch qua POS có một số hạn chế so với ATM ít khi rút được tiền mặt. Ngân hàng tự động qua điện thoại (Phone banking) Phone-banking là hệ thống tự động trả lời hoạt động 24/24, khách hàng dùng điện thoại (bàn, di động) gọi vào số điện thoại cố định do ngân hàng cung cấp sau đó nghe hướng dẫn nhấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trước, để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết. Hiện nay, đa phần các NHTM đều có bộ phận Call center để trả lời thông tin cho khách hàng có người trực 24/24 giờ. Đây là dịch vụ Ngân hàng qua điện thoại với các nhiệm vụ: Cung cấp tất cả các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng, bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, cho vay, chuyển tiền… Giới thiệu qua điện thoại các sản phẩm thẻ của Ngân hàng, Đăng ký làm thẻ qua điện thoại, Đăng ký vay cho khách hàng cá nhân qua điện thoại, Thực hiện thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, Internet, truyền hình cáp, bảo hiểm,… và các hình thức chuyển tiền khác, tiếp 13 nhận qua điện thoại các khiếu nại, thắc mắc từ khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, tư vấn sử dụng thẻ, báo và giải đáp số dư thẻ, hướng dẫn đăng ký thẻ,… 1.
Ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile banking) Theo định nghĩa của trang Wikipedia thì: “Mobile Banking là một dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng hoặc là những tổ chức tài chính khác cho phép khách hàng có thể tiến hành những giao dịch tài chính từ xa bằng cách sử dụng những thiết bị như là điện thoại di động hoặc là máy tính bảng. Khác với ATM hay Internet Banking, ứng dụng Mobile Banking thực hiện mọi giao dịch ngân hàng thông qua chiếc điện thoại di động. Thông thường các thao tác kiểm tra các thông tin về tài chính như: kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, thông báo giao dịch, nạp tiền điện thoại, thanh toán các hóa đơn… đều có thể thực hiện được qua Mobile Banking nhưng hiện tại, Mobile Banking được xây dựng trên nền tảng OTT còn cung cấp các tiện ích phi tài chính như tra cứu thông tin (ATM, chi nhánh,.), giải trí (dự đoán bóng đá, game, đọc tin tức.