Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử trong các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Quảng Bình. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Quảng Bình. 5 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Tổng quan về ngân hàng điện tử.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử.
Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin thì dịch vụ ngân hàng điện tử ngày càng thể hiện rõ nét hơn những giá trị mà nó mạng lại cho khách hàng cũng như ngân hàng, nó giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, tiện lợi mọi lúc mọi nơi, nhanh chóng và hiệu quả. Việc đưa sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử vào ứng dụng một cách rộng rãi là một xu thế tất yếu. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng điện tử nhưng có thể hiểu: Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking, viết tắt là E- Banking) là loại hình dịch vụ ngân hàng được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin và viễn thông hiện đại, cho phép khách hàng giao dịch không cần tiếp xúc trực tiếp với nhân viên ngân hàng hoặc bên trung gian nào khác. Loại hình này là một dạng của thương mại điện tử được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh ngân hàng.
Với dịch vụ E- Banking, khách hàng không cần thiết phải đến trực tiếp ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện giao dịch thông qua các loại phương tiện điện tử khác nhau. Năm 2005, theo Luật giao dịch điện tử được Quốc hội Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra định nghĩa một cách tổng quát như sau: “ Các dịch vụ và sản phẩm Ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối điện tử (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động,.) được gọi là dịch vụ Ngân hàng điện tử”. [7] Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: Hình thức NH trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng, và mô hình kết hợp giữa hệ thống NHTM truyền thống và 6 điện tử hóa các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. NHĐT Việt nam chủ yếu phát triển theo mô hình này.
Như vậy dịch vụ NHĐT là một loại dịch vụ đặc biệt vì nó cung cấp một dịch vụ ảo và nhạy cảm liên quan đến tài chính của khách hàng và có sự tham gia vào việc ứng dụng công nghệ cao và công nghệ mới.2 Đặc điểm dịch vụ NHĐT. Dịch vụ NHĐT trước hết là dịch vụ ngân hàng vì vậy nó có tất cả các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng. Ngoài các đặc điểm chung nêu trên, dịch vụ NHĐT còn có một số đặc điểm riêng đó là: 1.1 Có hàm lƣợng công nghệ cao, phát triển dựa trên nền tảng CNTT hiện đại. Không có CNTT hiện đại thì không thể có dịch vụ NHĐT.
Dịch vụ NHĐT chỉ ra đời khi nền kinh tế đã đạt được một trình độ nhất định về ứng dụng CNTT hiện đại. Quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ NHĐT phải được thực hiện trên cơ sở hạ tầng CNTT. Trước áp lực cạnh tranh gia tăng cùng với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, các NHTM buộc phải ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Qua đó, các NHTM đã cho ra đời phương thức cung ứng dịch vụ mới đó là dịch vụ NHĐT.
Theo đó, các dịch vụ ngân hàng truyền thống được phân phối trên các kênh phân phối mới như Internet, điện thoại, mạng không dây.2 Nhanh chóng, thuận tiện. Ngân hàng điện tử có thể giúp khách hàng liên lạc với Ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện để thực hiện một số nghiệp vụ Ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Tiện ích này đã thu hẹp khoảng cách không gian, tiết kiệm công sức, thời gian và chi phí của khách hàng. Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểu Ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với NHĐT.3 Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh.
Ngân hàng điện tử là một giải pháp của NHTM để mở rộng phạm vi hoạt động không chỉ phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn cả mọi nơi trên thế giới. Ngân 7 hàng điện tử với công cụ chủ yếu là Internet và thiết bị điện tử có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng ở bất cứ nơi đâu trên thế giới tại bất cứ thời điểm nào. Điều này giúp NHTM thực hiện chiến lược “Toàn cầu hóa” mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Đồng thời, một mặt dịch vụ NHĐT đáp ứng kịp thời các nhu cầu mới của khách hàng với chất lượng dịch vụ cao, mặt khác giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập.
sẽ góp phần khẳng định thương hiệu và tăng khả năng cạnh tranh cho bản thân ngân hàng.4 Cung cấp dịch vụ trọn gói. Điểm đặc biệt của NHĐT là có thể cung cấp dịch vụ trọn gói. Theo đó các ngân hàng có thể liên kết với công ty Bảo hiểm, công ty Chứng khoán, công ty Tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán.3 Các loại dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM.1 Dịch vụ thẻ. Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng độc đáo, hiện đại ra đời và phát triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật.
Với những tính năng ưu việt, cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, dịch vụ thẻ nhanh chóng trở thành dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến trên toàn thế giới. Thẻ ngân hàng ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin của NHTM. Hiện nay dịch vụ thẻ và các máy rút tiền tự động là phương tiện tài chính hiện đại được liên kết giữa thẻ ATM với tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng để thực hiện nhiều chức năng khác nhau như: thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, ĐVCNT hoặc tại ATM trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Đây là loại hình sản phẩm của dịch vụ NHĐT được khách hàng ưa chuộng sử dụng nhiều tại ngân hàng.
8 Ngày nay dịch vụ thẻ không đơn thuần chỉ để rút tiền mà còn kèm theo nhiều tiện ích ngày càng đa dạng hơn, bao gồm: Thanh toán lương cho cán bộ nhân viên của các cơ quan, doanh nghiệp. Kiểm tra số dư trên tài khoản và in bảng kê các giao dịch gần nhất. Chuyển khoản trong cùng hệ thống và ngoài hệ thống. Thanh toán hoá đơn tiền điện, nước, điện thoại,… Thanh toán hoá đơn dịch vụ tài chính….
Trong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của NHNN Việt Nam thì thẻ thanh toán được định nghĩa như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Hiện nay, có rất nhiều loại thẻ khác nhau, với những đặc điểm và công dụng rất đa dạng, phong phú. Có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí sau: Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ: Thẻ tín dụng (credit card): Thẻ tín dụng cho phép khách hàng cá nhân là chủ thẻ được chi tiêu trước, trả tiền sau theo một hạn mức tín dụng nhất định do ngân hàng cấp theo quy định của ngân hàng. Sử dụng thẻ tín dụng khách hàng được miễn lãi tối đa 45 ngày kể từ ngày giao dịch đối với giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán phí, lãi.
Khách hàng chỉ phải trả một khoản giá trị thanh toán tối thiểu trước ngày sao kê và khoản vay khách hàng chưa trả bắt đầu bị tính lãi theo quy định của ngân hàng. Thẻ ghi nợ (debit card): thẻ ghi nợ được ngân hàng phát hành dành cho khách hàng chỉ nhằm mục đích thanh toán và tiêu dùng trong phạm vi số tiền khả dụng mà khách hàng có sẵn trong tài khoản ngân hàng đi kèm với thẻ đó. Về cơ bản, thẻ ghi nợ cũng được chia thành nhiều loại khác nhau phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng với hạn mức rút thẻ khác nhau. Thẻ trả trước (prepaid card): là thẻ có thể do ngân hàng, tổ chức tài chính phát hành, cũng có thể do doanh nghiệp liên kết với ngân hàng phát hành cho khách 9 hàng để khuyến khích sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
Loại thẻ này mang tín năng như thẻ tín dụng hay thẻ ghi nợ quốc tế. Tuy nhiên thẻ trả trước không hề được liên kết với tài khoản ngân hàng. Do đó chủ thẻ chỉ có thể sử dụng số tiền có trong thẻ. Phân loại theo phạm vi sử dụng: Thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
Thẻ nội địa là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch chuyển khoản, rút tiền trong phạm vi số tiền khả dụng có trong tài khoản ngân hàng trong phạm vi quốc gia phát hành thẻ. Thẻ quốc tế cho phép khách hàng cá nhân là chủ thẻ sử dụng số tiền trong phạm vi số dư có trong tài khoản thẻ mở tại ngân hàng trong nước để thanh toán tiền mua sắm hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt tại ATM trong và ngoài nước (miễn là nơi đó có dịch vụ hỗ trợ thanh toán bằng các loại thẻ này) mà không cần phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài. Khách hàng có thể chi tiêu bằng bất kỳ loại tiền nào tại hàng triệu điểm mua sắm, dịch vụ hoặc website có biểu tượng Visa , Mastercard ở Việt Nam và trên toàn thế giới.