Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thƣơng mại. - Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàngthƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Quảng Bình. - Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại BIDV - Chi nhánh Bắc Quảng Bình. 3 PHẦN 2: NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về ngân hàng điện tử Công nghệ cao đang đƣợc áp dụng ngày càng nhiều trong kinh doanh, đặc biệt trong các tổ chức dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với khách hàng nhƣ ngân hàng, môi giới chứng khoán, v.v…Công nghệ giao dịch mới trong hoạt động ngân hàng trên nền tảng công nghệ thông tin đã đƣợc các nƣớc tiên tiến vận dụng và phát triển với tốc độ cao nhằm nâng cao công suất dịch vụ, tiết kiệm chi phí nhân công, chi phí cho dịch vụ, mở rộng giao diện với khách hàng và quản lý tốt hơn dữ liệu về khách hàng, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng về chất lƣợng cũng nhƣ thời gian. Trong vài thập kỷ trở lại đây thuật ngữ “ngân hàng điện tử - Electronic banking” đƣợc sử dụng khá phổ biến. Theo sự nghiên cứu của Keivani và các cộng sự (2008) thì NHĐT là “một thuật ngữ cho quy trình mà trong đó khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua các kênh điện tử mà không cần phải đến các cơ sở/chi nhánh ngân hàng. Theo quan điểm của Hội đồng giám định tài chính quốc gia Iran (2006) thì “dịch vụ NHĐT sẽ cung cấp một cách tự động các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng nhƣ hiện đại trực tiếp đến cho khách hàng thông qua các kênh điện tử.
Dịch vụ NHĐT là một hệ thống cho phép khách hàng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp, xem số dƣ tài khoản, thực hiện các giao dịch, thu thập thông tin về các sản phẩm và dịch vụ tài chính thông qua các mạng công cộng hoặc tƣ nhân, bao gồm cả mạng Internet. Dịch vụ NHĐT bao gồm dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (telephone banking or mobile phone banking), dịch vụ ngân hàng qua hệ thống 4 Tivi (TV-based banking) và dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy tính (PC banking/offline banking). Hệ thống này sẽ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng thông qua các thiết bị thông tin hiện đại nhƣ máy tính cá nhân (personal computer), máy kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (personal digital assistant, chẳng hạn nhƣ Ipad), máy rút tiền tự động (automated teller machine – ATM), máy chấp nhận thanh toán thẻ (point of sale – POS), hệ thống Kiosk và các điện thoại cảm ứng” [7]. Tóm lại, NHĐT chính là kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phƣơng tiện điện tử; là khả năng khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng thông qua các phƣơng tiện điện tử và bao gồm các dịch vụ ngân hàng đƣợc thực hiện bằng điện tử.2 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử Cùng với việc phát triển NHĐT thì các dịch vụ trực thuộc NHĐT cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới.
Có thể nói, các dịch vụ NHĐT chính là tác nhân quan trọng góp phần to lớn vào vào sự thành công và phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung và của từng ngân hàng cụ thể nói riêng. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ NHĐT. + Theo tài liệu của Ngân hàng thế giới (2003) thì dịch vụ NHĐT là “các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng đƣợc cung cấp cho các khách hàng bán buôn và án lẻ thông qua các kênh điện tử” [10]. Theo Tạp chí The Australian Banker “Dịch vụ NHĐT là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng” [8].
+ Tại Việt Nam, dịch vụ NHĐT đƣợc xem là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lƣu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới [2]. Cụ thể hơn, Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam cũng đã đƣa ra định nghĩa về dịch vụ NHĐT là: “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích đƣợc phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy 5 nhập đầu cuối khác nhƣ máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) đƣợc gọi là dịch vụ NHĐT [1]. Đồng thời, tại Điều 4 Luật Giao dịch điện tử Việt Nam 2005 cũng làm rõ khái niệm về phƣơng tiện điện tử đƣợc sử dụng trong giao dịch điện tử là “là các phƣơng tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tƣơng ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng intranet, mạng extranet…”.
Dựa trên các khái niệm đƣợc nêu ra có thể nhận thấy rằng thực chất của dịch vụ NHĐT là việc thiết lập một kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách nhanh chóng, an toàn và thuận tiện. Các giai đoạn phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử Năm 1989, Ngân hàng tại Mỹ (WellFargo), lần đầu tiên cung cấp dịch vụNgân hàng qua mạng, đến nay, có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng nhƣ thất bại trên con đƣờng xây dựng hệthống NHĐT hoàn hảo, phục vụtốt nhất cho khách hàng. Tổng kết những mô hình đó, nhìn chung, hệthống NHĐT đƣợc phát triển qua những giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: Quảng cáo trên Internet (Brochure-ware) là giai đoạn đơn giản nhất của NHĐT. Hầu hết các NH khi mới bắt đầu xây dựng NHĐT là thực hiện theo mô hình này.
Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về NH, về sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc,… thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền thống (báo chí, truyền hình, …), mọi giao dịch của NH vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, đó là các chi nhánh Ngân hàng. - Giai đoạn 2: Tra cứu thông tin hay vấn tin tài khoản qua mạng ( Internet Banking information). Ngân hàng sử dụng Internet nhƣ một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống nhƣ: xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán… Internet chỉ đóng vai trò nhƣ một dịch vụ cộng thêm để tạo thuận lợi thêm cho khách hàng. 6 - Giai đoạn 3: Hoạt động ngân hàng qua Internet (Internet Banking).
Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của Ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía ngƣời quản lý (back-end) đều đƣợc tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác. Giai đoạn này đƣợc phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của NH với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với NH. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẽ dữ liệu giữa hội sở NH và các kênh phân phối nhƣ chi nhánh, mạng Internet, mạng không dây… giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng đƣợc nhanh chóng và chính xác hơn. Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẽ thông tin giữa NH, đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý… Một vài NH tiên tiến trên thế giới đã xây dựng đƣợc mô hình này và hƣớng tới xâydựng đƣợc một NHĐT hoàn chỉnh.
- Giai đoạn 4: Dịch vụ NHĐT e-bank (Electronic Banking). Chính là mô hình lý tƣởng của một Ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sựthay đổi hoàn toàn trong môhình kinh doanh và phong cách quản lý. Những NH này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lƣợng tốt nhất. Từ những bƣớc ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, NH có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tƣợng khách hàng chuyên biệt.
Các sản phẩm của Ngân hàng điện tử 1. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng là hệ thống tổng thể bao gồm: hệ thống bù trừ liên ngân hàng, hệ thống xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán và cổng giao dịch với hệ thống chuyển tiền điện tử của ngân hàng Nhà nƣớc. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đƣợc thiết kế theo mô hình tập trung hóa tài khoản. Mỗi ngân hàng thƣơng mại là thành viên chỉ cần mở một tài khoản duy nhất tại ngân hàng Nhà nƣớc.
Các đơn vị thành viên của hệ thống này đƣợc kết nối trực tuyến với Trung tâm thanh toán quốc gia. Hệ thống đƣợc thiết kế gồm Tiểu hệ thống giá trị cao (HVS); Tiểu hệ thống giá trị thấp 7 (LVS) và hệ thống tài khoản quyết toán (SAP). Quá trình xử lý các giao dịch và quản lý hoạt động của hệ thống hoàn toàn tự động, thời gian thực hiện một giao dịch chỉ khoảng 10 giây. Hệ thống tập trung hóa tài khoản kế toán (Core-Banking) Core-Banking (ngân hàng lõi) là hệ thống xử lý các giao dịch tập trung dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng.
Hệ thống này đƣợc thiết kế mỗi ngân hàng chỉ sử dụng một cơ sở dữ liệu duy nhất gồm hai phần chính là sổ cái và thông tin khách hàng. Theo nguyên tắc mỗi khách hàng của ngân hàng dù mở tài khoản ở bất kỳ chi nhánh nào đều chỉ đƣợc cấp một mã khách hàng duy nhất. Các phân hệ nghiệp vụ đƣợc thiết kế độc lập và chiết xuất dữ liệu từ một hệ thống dữ liệu dùng chung, các phân hệ này có liên kết thông tin với nhau tùy theo tính chất liên kết nghiệp vụ.