phần mở đầu, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Chƣơng 2: thực trạng phát triển ngân hàng điện tử tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh nam Thanh Hóa Chƣơng 3: giải pháp phát triển ngân hàng điện tử tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh nam Thanh Hóa. Kết luận và tài liệu than khảo. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 1 K ái niệm Ngân hàng là một trong những lĩnh vực đƣợc giám sát chặt chẽ và sử dụng rộng rãi tiến bộ công nghệ.
Tầm quan trọng của các sản phẩm ngân hàng dựa trên nền tảng điện tử đang tăng lên từng ngày. Không nghi ngờ gì nữa, ngân hàng điện tử dựa trên cơ sở cung cấp những lợi thế rủi ro tƣơng đối thấp, lợi nhuận cao và chi phí thấp. Các ngân hàng trên toàn thế giới đã và đang triển khai hiệu quả công nghệ thông tin nhƣ một nguồn lực sáng tạo để đạt đƣợc tốc độ, hiệu quả, giảm chi phí, dịch vụ khách hàng và lợi thế cạnh trạnh. Các sản phẩm hỗ trợ công nghệ và các kênh phân phối mang lại giá trị cho khách hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, bằng mọi cách.
Trong hơn 200 năm, các ngân hàng sử dụng các hoạt động dựa trên chi nhánh nhƣng sự ra đời của nhiều công nghệ và ứng dụng đã làm thay đổi bản chất của các dịch cụ tài chính đƣợc cung cấp cho khách hàng. Ví dụ máy rút tiền tự động ATM thay thu giao dịch viên thu ngân, điện thoại do tổng đài đài diện thay thế cho giao dịch ngân hàng, internet thay thế thƣ, thẻ tín dụng và tiền mặt điện tử thay thế giao dịch ngân hàng. Các ngân hàng có đƣợc nhiều lợi thế khi cung cấp dịch vụ ngân hàng 24/24. Lãnh thổ kinh doanh đƣợc mở rộng hơn và cũng tăng hiệu quả trong các quy trình ngân hàng hàng ngày.
Ngân hàng điện tử là việc cung cấp tự động các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới và tuyền thống trực tiếp đến khách hàng thông qua các kênh giao tiếp điện tử, thƣơng tác. Ngân hàng điện tử bao gồm các hệ thống cho phép khách hàng là các tổ chức tài chính và cá nhân, doanh nghiệp, truy cập vào tài khoản, giao dịch kinh doanh hoặc tìm hiểu thông tin về các sản phẩm, dịch vụ tài chính thông qua mạng internet. 7 Ngân hàng điện tử cũng có thể đƣợc hiểu là nhiều nền tảng ngân hàng khác nhau nhƣ ngân hàng trực tuyến, ngân hàng qua điện thoại, theo đó khách hàng truy cập các dịch vụ này bằng một thiết bị điện tử thông minh nhƣ máy tính các nhân, thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số, máy rút tiền tự động, điểm bán hàng,. Sự đổi mới trong ngân hàng có thể bắt nguồn từ những năm 1870, việc tin học hóa của các tổ chức tài chính đã đạt đƣợc sự tăng trƣởng.
Từ những năm 1981, với sự ra đời của máy rút tiền tự động ATM ngân hàng đổi mới và phát triển từ đó. Đầu thập kỷ của những năm 1990 chứng kiến sự xuất hiện của công nghệ thu âm tự động. Bằng cách sử dụng công nghệ này các ngân hàng trang bị các tiện ích cho dịch vụ tài chính. Với những tiến bộ hơn nữa, ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ thông qua máy tính cá nhân do học sở hữu và vận hành một cách thuận tiện[13] Dịch vụ ngân hàng điện tử bắt nguồn từ sự phát triển của thƣơng mại điện tử.
Thƣơng mại điện tử đƣợc hình thành trên mọi lĩnh vực kinh tế với sự tham gia của rất nhiều các đối tác, các doanh nghiệp, đặc biệt trong đó có một lĩnh vực mà sự phát triển của thƣơng mại điện tử là không thể tách rời không thể thiếu trong quá trình phát triển lâu dài đó là ngành ngân. Kant và cộng sự (2015) mô tả dịch vụ ngân hàng điện tử nhƣ là "một điều khoản bảo mật cho quá trình khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng bằng phƣơng tiện điện tử mà không cần phải đến chi nhánh ngân hàng" [5]. Amin (2009) lại mô tả dịch vụ ngân hàng điện tử nhƣ một hệ thống kết nối điện tử giữa ngân hàng và khách hàng để quản lý và kiểm soát các giao dịch tài chính. Hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng ngân hàng điện tử đảm bảo khả năng tiếp cận 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần thông qua hệ thống thông tin tiên tiến [1].
Như vậy, có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ ngân hàng điện tử (E-Banking), nhƣng một khái niệm đầy đủ nhất về E-Banking, theo 8 tác giả là khái niệm của Basel Committee Report on Banking Supervision (1998, 3) về dịch vụ ngân hàng điện tử: "Dịch vụ ngân hàng điện tử là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụ có giá trị nhỏ thông qua các kênh điện tử cũng như các khoản thanh toán điện tử lớn và các dịch vụ ngân hàng bán buôn khác được cung cấp bằng phương tiện điện tử" [4] 1.1 2 P ân loại dịc vụ ngân àng điện tử Căn cứ t eo k n p ân p ối dịc vụ Sự phát triển của công nghệ gắn với sự đa dạng trong phƣơng thức giao dịch điện tử, các kênh phân phối dịch vụ e-banking cũng ngày càng phong phú. Các phƣơng pháp và thiết bị truy cập truyền thông sử dụng để cung cấp dịch vụ e-banking đƣợc chỉ ra trong sơ đồ 1.1 dƣới đây (Apostolos, 2006) [3] Hình 1.1: Các phƣơng pháp và thiết bị truy cập truyền thông trong e- banking Dƣới đây là các loại hình dịch vụ NHĐT đƣợc phân chia theo đặc trƣng của các kênh phân phối điện tử hiện nay. Dịch vụ e-banking qua hệ thống máy giao dịch tự động (ATMs): 9 ATM hay máy giao dịch tự động là thiết bị viễn thông đƣợc máy tính hoá của các ngân hàng nhằm cung cấp một phƣơng thức giao dịch ngân hàng an toàn trong môi trƣờng công cộng mà không cần đến giao dịch viên. Tiện ích cơ bản mà ATM mang lại có thể kể đến nhƣ đổi mã PIN, truy vấn xem số dƣ tài khoản, rút tiền mặt từ tài khoản, in sao kê.
Ngoài ra, một số loại máy ATM còn cho phép nhận gửi tiền mặt, nhận séc, in séc trắng, thanh toán hoá đơn, thanh toán các khoán phí thƣờng xuyên, cung cấp dịch vụ thẻ điện thoại,… Dịch vụ e-banking qua hệ thống chấp nhận thẻ (POS-banking): POS là phƣơng thức cung cấp dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy POS tại các điểm bản hàng. Máy POS dùng để cung cấp dịch vụ e-banking là hệ thống điện tử dùng tại các điểm bán hàng có khả năng đọc thẻ và đƣợc nối tới một trung tâm dữ liệu tài khoản để thực hiện chức năng thanh toán bằng thẻ. Chức năng chính của POS là cung cấp dịch vụ thanh toán qua thẻ cho việc mua bán hàng hoá dịch vụ. Tiện ích mà POS mang lại cho chủ thẻ là không phải mang tiền mặt mỗi khi đi mua sắm, tránh việc trả lại tiền không đủ tiêu chuẩn lƣu hành.
Chính nhờ những tiện ích này mà POS đã tác động rất lớn đến việc xây dựng thói quen không dùng tiền mặt trong dân chúng. Dịch vụ e-banking qua điện thoại cố định (Telephone-banking): Telephone-banking là hệ thống tự động trả lời khách hàng, hoạt động 24/24. Khách hàng nhấn vào các bàn phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định trƣớc, để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết. Dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại cố định đƣợc cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với ngân hàng thông qua tổng đài của dịch vụ.
Thông qua các phím chức năng đƣợc định nghĩa trƣớc, khách hàng sẽ đƣợc phục vụ một cách tự động mọi lúc, mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính. Những dịch vụ ngân hàng mà Telephone-banking mang lại có thể kể đến nhƣ cung cấp thông tin tài khoản và bảng kê các giao 10 dịch, báo nợ, báo có, cung cấp thông tin ngân hàng nhƣ lãi suất, tỷ giá hối đoái, chuyển tiền, thanh toán hoá đơn và hỗ trợ khách hàng,. Dịch vụ e-banking qua điện thoại di động (Mobile-banking): Mobile-banking hay còn gọi là M-banking là phƣơng thức cung cấp các dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động. Về nguyên tắc, đây chính là quy trình thông tin đƣợc mã hoá, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động của khách hàng.
Các dịch vụ này đƣợc thực hiện qua chức năng nhắn tin của điện thoại di động. Khi muốn sử dụng dịch vụ, khách hàng nhắn tin theo mẫu đã quy định trƣớc và gửi đến số máy dịch vụ Mobile-banking của ngân hàng. Các tiện ích mà Mobile-banking có thể mang lại bao gồm: truy vấn thông tin tài khoản nhƣ xem sao kê ngắn gọn, kiểm tra các giao dịch đã thực hiện, xem tình trạng khoản vay, tài khoản quỹ.; thanh toán và chuyển khoản nhƣ chuyển khoản trong và ngoài nƣớc, thanh toán các khoản chi tiêu cá nhân, nạp tiền điện thoại di động,… Dịch vụ e-banking qua mạng máy tính toàn cầu (Internet-banking): Internet – banking là việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua mạng Internet. Khách hàng chỉ cần một công cụ duyệt web nhƣ Internet Explorer hay Firefox và một đƣờng truyền Internet bình thƣờng là đủ để sử dụng Internet-banking tại bất cứ nơi nào có thể truy cập Internet và bất cứ lúc nào khách hàng có nhu cầu.
Dịch vụ ngân hàng Internet đƣợc hiểu là một loại hình dịch vụ e-banking đƣợc cung cấp qua Internet, thƣờng là thông qua máy tính cá nhân (PC) hay các thiết bị truy cập Internet khác [3] Một số tiện ích của Internet-banking là kê khai tài khoản ngân hàng, có thể nhập dữ liệu vào một chƣơng trình quản lý tài chính cá nhân, thanh toán hoá đơn, chuyển khoản giữa các tài khoản thanh toán và tài khoản tiết kiệm của ngƣời này cho ngƣời khác, mua các khoản đầu tƣ, đăng ký và giao dịch các khoản vay nhƣ hoàn trả vốn, kết hợp tài khoản cho phép khách hàng cùng 11 lúc theo dõi tất cả cả tài khoản của họ dù các tài khoản này ở ngân hàng chính hay ở các trụ sở khác nhau. Dịch vụ e-banking tại nhà (Home-banking): Với home-banking, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhƣng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng.