CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử a. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng.
Theo David Cox - tác giả “Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại”, hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều được gọi là dịch vụ ngân hàng. Như vậy, dịch vụ ngân hàng được hiểu là kết quả của các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, bao gồm các hoạt động về huy động vốn, tiền tệ, bảo lãnh, ủy thác, tư vấn, trung gian thanh toán… nhằm đáp ứng các nhu cầu như đầu tư, tiêu dùng, du học. cũng thông qua việc đáp ứng nhu cầu tài chính đa dạng của khách hàng mà ngân hàng thành công hoàn thành mục tiêu lợi nhuận từ thu tín dụng, kinh doanh ngoại hối hay phí thu được từ các dịch vụ trên. Dịch vụ của ngân hàng thương mại đều có liên quan tài chính, đòi hỏi người cung ứng phải có nguồn vốn lớn, uy tín, trong đó nhiều dịch vụ còn phải đảm bảo theo yêu cầu khắt khe của quy định luật pháp; về cơ bản, các dịch vụ được ngân hàng cung cấp có hai đặc trưng cơ bản bao gồm: Một là, lĩnh vực dịch vụ này theo quy định trong luật định thì chỉ có các NHTM với các lợi thế riêng mới có thể hoàn toàn đáp ứng.
Hai là, dịch vụ NHTM ngoài việc thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của người dùng, nó còn có vai trò quan trọng là hỗ trợ NHTM hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, sứ mệnh của mình. Lĩnh vực dịch vụ NHTM có tác động rất lớn đến sự phát triển của nền 12 kinh tế, lĩnh vực này phải tuân theo các quy định được nêu tại Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, các hoạt động của NHTM bao gồm: - Các hoạt động nghiệp vụ thực hiện chức năng trung gian tài chính như: Nhận các loại tiền gửi; phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi (CDs), trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu và các loại tín phiếu ngân hàng; Cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân và tổ chức dưới các hình thức. - Ngoài các dịch vụ đóng vai trò trung gian về tài chính trong nền kinh tế, NHTM còn cung cấp rất đa dạng các dịch vụ về tài chính khác như: Mở tài khoản phục vụ việc thanh toán theo đăng ký của khách hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế số; cung ứng các phương tiện thanh toán, góp phần quan trọng thúc đẩy hoạt động ngoại thương như xuất nhập khẩu, cung cấp nhiều dịch vụ trung gian cho khâu thanh toán theo kỳ vọng hiện đại. Dịch vụ ngân hàng cũng được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đề cập trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) tại Phụ lục về dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng được WTO coi là một bộ phận của dịch vụ tài chính.
Dịch vụ tài chính được hiểu theo nghĩa khá rộng là bất kỳ dịch vụ nào được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp và có tính chất tài chính đều được coi là dịch vụ tài chính, còn dịch vụ ngân hàng thì được chia theo 12 phân ngành bao gồm các dịch vụ trung gian tài chính, dịch vụ trung gian thanh toán, các dịch vụ như ủy thác, phân tích, tư vấn đầu tư khác. NHTM nghiên cứu, thiết kế và cung cấp đa dạng dịch vụ không những góp phần mang lại thu nhập cao cho ngân hàng và còn thúc đẩy các lĩnh vực khác của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế. Ngoài ra, tiếp cận dịch vụ của NHTM theo hướng hoàn thiện và phát triển thêm các dịch vụ ngân hàng mới cũng như phục vụ quá trình tái cơ cấu 13 ngành ngân hàng thì dịch vụ ngân hàng nên hiểu theo phạm vi ngành, tức là những dịch vụ huy động vốn và cho vay truyền thống. Theo cách tiếp cận nhằm tái cơ cấu nền kinh tế quốc dân, các giao dịch về tiền, cung cấp tín dụng, cung cấp phương tiện thanh toán, giao dịch ngoại hối.
giữa ngân hàng với doanh nghiệp và công chúng đều được coi là dịch vụ ngân hàng. Theo David Cox (1997), dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Ở Việt Nam, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật các tổ chức tín dụng quy định nhưng không có định nghĩa giải thích. Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 không nhắc đến dịch vụ ngân hàng, mà chỉ nhắc đến các hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là: 1.
Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; 3. Cấp tín dụng dưới các hình thức; 4. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; 5.
Cung ứng các phương tiện thanh toán; 6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử - còn được biết đến như là ngân hàng trên mạng (Internet banking), ngân hàng ảo (Virtual banking), ngân hàng trực tuyến (Online banking) và ngân hàng tại nhà (Home banking), bao gồm nhiều hoạt động ngân hàng được thực hiện tại nhà, tại công ty hay trên đường thay vì tại chính ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng, theo đó khách hàng có thể truy cập sử dụng các dịch vụ của ngân 14 hàng “không chạm” như tìm kiếm và khai thác sử dụng thông tin, tiến hành thanh toán tiền hàng, giao dịch đầu tư tài chính như đầu tư chứng khoán…bằng tài khoản được mở tại ngân hàng.
Ngoài ra, sự đa dạng dịch vụ NHĐT còn cho phép khách hàng đăng ký sử dụng các dịch vụ ngân hàng mới dựa trên Internet hoặc các phương tiện và công cụ truy cập internet như máy vi tính, ATM, POS, ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động,. Dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây, … Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin (CNTT) và điện tử viễn thông. E-banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Hoàng Nguyên Khai, 2013).
Do CNTT càng ngày càng phát triển, nên sự phát triển dịch vụ NHĐT là xu hướng khách quan, tất yếu của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung. NHĐT đã khắc phục hiệu quả các hạn chế của giao dịch trực tiếp, được coi là công cụ giúp các NHTM cạnh tranh hiệu quả khi thực hiện xây dựng và củng cố mối liên kết với khách hàng, tăng thêm các nguồn thu mà không phát sinh nhiều chi phí như ngân hàng truyền thống. Ưu điểm và lợi ích của dịch vụ ngân hàng điện tử - Nhanh chóng, thuận tiện: dịch vụ NHĐT giúp bạn thực hiện bất cứ thời điểm nào trong ngày, ở bất cứ nơi đâu có kết nối viễn thông. Cụ thể như: nạp tiền cước phí cho thuê bao điện thoại, đóng tiền điện nước, chuyển khoản, mua sắm,… đơn giản, nhanh chóng.
Điều này vô cùng có ý nghĩa với những khách hàng có ít thời gian để đến các điểm giao dịch trực tiếp với ngân hàng, các khách hàng cá nhân có số lượng giao dịch với ngân hàng không nhiều, số tiền mỗi lần giao dịch không lớn. Dịch vụ NHĐT của các NHTM thỏa mãn 15 rất tốt các kỳ vọng trên, đặc biệt trong đại dịch Covid 19 thì dịch vụ ngân hàng truyền thống gần như không thể đáp ứng. - Tiết kiệm chi phí giao dịch, tăng doanh thu, giúp ngân hàng tăng tỷ suất lợi nhuận. Việc phát triển dịch vụ NHĐT có chi phí đầu tư ban đầu lớn, nhưng là đầu tư tập trung và lâu dài.
Đổi lại, ngân hàng giảm được các chi phí trả lương cho giao dịch viên, chi phí về đầu tư, lắp đặt, bảo trì các thiết bị như ATM, điện thoại… điều này dẫn đến giảm chi phí trong dài hạn. Ngoài ưu điểm tiết kiệm và xóa bỏ khoảng cách thời gian, địa điểm giao dịch, NHĐT cung ứng đa dạng các dịch vụ ít tốn kém phí giao dịch, làm tăng các nguồn thu và khoản thu của ngân hàng. - Tăng khả năng cạnh tranh và nhanh chóng mở rộng phạm vi hoạt động cho ngân hàng thương mại: Các dịch vụ NHĐT giúp ngân hàng thương mại nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ khả năng đáp ứng người dùng tốt hơn, xây dựng bộ nhận diện thương hiệu số giúp quảng bá và hiệu quả thương hiệu. Ngân hàng truyền thống khiến việc mở chi nhánh ở nước ngoài gặp nhiều rào cản, nhưng dịch vụ NHĐT không những giúp ngân hàng triển khai hiệu quả chiến lược toàn cầu hóa ít tốn chi phí do không phải xây dựng chi nhánh, tìm kiếm đại lý ở các thị trường quốc tế.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: dịch vụ ngân hàng điện tử giúp ngân hàng có thể thực hiện các lệnh thu - chi của người dùng 24/7 nhanh nhất, đẩy nhanh tốc độ dòng lưu chuyển vốn tiền tệ, giúp việc lưu thông hàng hóa thuận lợi. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ NHĐT mang đầy đủ đặc trưng của dịch vụ ngân hàng; hơn nữa, nó còn có thêm các đặc điểm như: - Đòi hỏi áp dụng thành tựu từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại: điều kiện cần để dịch vụ NHĐT hình thành là CNTT hiện đại 16 được ứng dụng vào thực tế. Hạ tầng CNTT là nhân tố tiên quyết để NHTM có thể cung cấp dịch vụ NHĐT, chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào quá trình ứng dụng thành tựu CNTT, công nghệ ngân hàng của các NHTM.