phần Mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương “ hƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng thương mại” “ hƣơng : Thực trạng phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam- Chi nhánh Huyện Đông Hưng Bắc Thái Bình. “ hƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam- Chi nhánh Huyện Đông Hưng Bắc Thái Bình. 8 ƢƠ 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ỆN TỬ 1.1 Tổng quan về dịch vụ ngân h ng điện tử của ngân h ng thƣơng mại 1.1 Khái niệm dịch vụ Ngân hàng điện tử Trên thế giới, loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử (Tiếng Anh: E-banking) đã xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử. Nó lần đầu tiên được cung ứng từ năm 1980 bởi một ngân hàng ở Scotland.
Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng điện tử chính thức được cung ứng bởi các ngân hàng vào năm 1990 và ngày càng trở nên phổ biến cho đến ngày nay. Về mặt bản chất, ngân hàng điện tử gồm các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa để từ đó cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức là: Hình thức ngân hàng trực tuyến chỉ tồn tại trên cơ sở mạng Internet, cung cấp 100% dịch vụ thông qua mạng Internet và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hóa các dịch vụ truyền thống, nghĩa là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Như vậy, ta có thể đưa ra định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) là loại dịch vụ ngân hàng cho phép các giao dịch ngân hàng được thực hiện qua điện thoại hoặc máy tính thông qua internet thay vì phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn, dịch vụ ngân hàng điện tử là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Hay nói cách khác, loại hình dịch vụ này là một dạng của thương mại điện tử (e-commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.2 Các loại hình dịch vụ Ngân hàng điện tử a) Các sản phẩm thẻ Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng 9 dùng để thực hiện dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động và được chia thành hai loại chính: - Thẻ ghi nợ (Debit card): Thẻ thanh toán qua các máy ATM, máy POS hoặc các máy thanh toán khác, cho phép khách hàng nhận lương hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng cách ghi nợ trực tiếp vào tài khoản của họ. - Thẻ ghi có (Credit card): là một hình thức ngân hàng cho khách hàng vay, khách hàng sử dụng hạn mức vay của mình để thanh toán hàng hóa dịch vụ với hình thức chi tiêu trước, trả tiền sau.
b) Máy giao dịch tự động (ATM) Máy giao dịch tự động (Automatic Teller Machine, viết tắt là ATM) là thiết bị viễn thông được máy tính hóa của các ngân hàng nhằm cung cấp một phương thức giao dịch ngân hàng an toàn trong môi trường công cộng mà không cần đến sự trợ giúp của nhân viên ngân hàng. Khách hàng dùng các loại thẻ của ngân hàng đưa vào máy ATM, các máy này sẽ nhận dạng khách hàng thông qua mã số nhận dạng cá nhân (PIN) mà khách hàng nhập trên bàn phím của máy. Ngoài chức năng chủ yếu là cho phép khách hàng rút tiền mặt, các máy ATM còn cung cấp một loạt các dịch vụ giá trị gia tăng khác như cho phép khách hàng vấn tin tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản, nạp tiền điện thoại, mua bảo hiểm.Một số máy ATM còn cho phép nhận tiền mặt, nhận séc, in séc trắng. Máy ATM có ưu điểm là góp phần hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông và khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng cho chi tiêu hàng ngày, do vậy, mật độ máy ATM không ngừng gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
c) Thanh toán tại các điểm bán hàng (POS Banking) POS banking là phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy POS tại các điểm bán hàng (POS – Point Of Sales). Máy POS dùng để cung cấp dịch vụ NHĐT là hệ thống điện tử dùng tại các điểm bán hàng có khả năng đọc thẻ 10 và được nối tới một trung tâm dữ liệu tài khoản để thực hiện chức năng thanh toán bằng thẻ. Người bán hàng kéo trượt thẻ qua máy cà thẻ, một thiết bị đọc có thể đọc các thông tin được mã hóa trên dải từ hoặc chíp điện tử ở mặt sau thẻ. Qua đó, hệ thống tự động trích tiền từ tài khoản của người mua trả cho người bán.
Ngoài những ưu điểm là chi phí đầu tư cho một máy POS thấp, dễ dàng lắp đặt, thuận tiện cho khách hàng sử dụng thì máy POS còn có nhiều chức năng không thua kém gì so với máy giao dịch tự động như: thanh toán hàng hóa tại các điểm bán hàng, thanh toán các khoản phí dịch vụ, thực hiện kiểm tra số dư, rút tiền. Do đó, cùng với sự phát triển hệ thống máy ATM, mở rộng mạng lưới POS đang là chiến lược của nhiều ngân hàng hiện nay. d) Ngân hàng qua mạng Internet (Internet banking) Internet Banking là việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua mạng internet. Khi sử dụng dịch vụ này, khách hàng không cần cài đặt thêm một phần mềm đặc biệt nào mà chỉ cần truy cập trực tiếp vào trang web của ngân hàng.
Chỉ với máy tính kết nối internet và mã truy cập do ngân hàng cung cấp, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng một cách nhanh chóng, an toàn, thuận tiện từ bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào khách hàng có nhu cầu. Internet banking là kênh phân phối rộng khắp các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tới khách hàng. Các dịch vụ internet banking cung cấp chủ yếu như sau: - Vấn tin thông tin tài khoản (số dư, lịch sử giao dịch, in sao kê.), thông tin ngân hàng (lãi suất, tỷ giá, phí, địa chỉ chi nhánh, địa điểm máy ATM.) - Chuyển tiền trong và ngoài hệ thống - Thanh toán hóa đơn (điện, nước, điện thoại, phí bảo hiểm, vé máy bay.) - Thanh toán trực tuyến (mua hàng trên mạng.) - Các dịch vụ khác như mua ngoại tệ, tra soát giao dịch, gửi thắc mắc. Sự ra đời của internet banking thực sự là một cuộc cách mạng, nó thúc đẩy các giao dịch nhanh hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng cũng như ngân hàng và xã hội, vì vậy dịch vụ này đã phát triển nhanh chóng trên toàn cầu.
11 e) Ngân hàng tại nhà (Home banking) Home banking được xây dựng trên nền tảng là phần mềm ứng dụng (Sofware base) và nền tảng công nghệ Web (Web base) thông qua hệ thống máy chủ, internet, máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hóa, trao đổi và xác nhận. Đây là sản phẩm có tính bảo mật cao nhờ hoạt động trên mạng thông tin liên lạc cục bộ giữa ngân hàng và khách hàng (mạng Intranet), do ngân hàng xây dựng riêng. Thông qua home banking khách hàng có thể chủ động kiểm soát hoạt động giao dịch ngân hàng từ văn phòng của họ, nhờ đó giúp khách hàng tiết kiệm tối đa chi phí đi lại, chi phí thời gian mà vẫn được thỏa mãn nhu cầu như kênh phân phối truyền thống. Thông thường home banking thực hiện 3 chức năng chính là chuyển tiền, xem số dư và giao dịch trên tài khoản, mở thư tín dụng L/C.
Ngoài ra dịch vụ này còn cung cấp thông tin về tỷ giá, lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các chương trình khuyến mại. Loại hình này thường chỉ phục vụ đối tượng khách hàng doanh nghiệp. f) Ngân hàng qua mạng di động (Mobile banking và SMS banking) Mobile banking là dịch vụ trong đó phương thức giao dịch với ngân hàng thông qua ứng dụng được cài vào điện thoại di động của khách hàng. Thực chất dịch vụ này chính là sự kết nối điện thoại di động của khách hàng với trung tâm cung cấp dịch vụ NHĐT và kết nối internet trên điện thoại di động sử dụng giao thức truyền thông WAP (Wireless Application Protocol).
Giao diện ứng dụng theo dạng menu, chỉ cần chọn vào menu tương ứng với nhu cầu để thực hiện giao dịch, giúp cho giao dịch thực hiện nhanh chóng và thuận tiện. Mobile banking đảm bảo an toàn vì các thông tin giao dịch được mã hóa và ký điện tử bởi ngân hàng. SMS banking là giải pháp cung cấp các dịch vụ ngân hàng trong đó phương thức giao dịch với ngân hàng thông qua tin nhắn theo cú pháp được định nghĩa từ ngân hàng cho phép khách hàng truy vấn thông tin tài khoản bất kỳ lúc nào với chiếc điện thoại di động. Khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ SMS banking chỉ cần soạn tin nhắn theo cú pháp và gửi về tổng đài ngân hàng.
Cú pháp này nhằm giúp chương trình của dịch vụ SMS banking liên kết dữ liệu của ngân hàng. Trung 12 tâm xử lý của ngân hàng phản hồi kết quả đến khách hàng. Cùng với sự phát triển của mạng điện thoại di động, các NHTM đã nhanh chóng ứng dụng những công nghệ mới này vào dịch vụ ngân hàng. Các dịch vụ hiện đang cung cấp trên kênh này bao gồm: Truy vấn thông tin tài khoản, thông tin ngân hàng, chuyển khoản nội bộ, thanh toán hóa đơn, mua hàng trực tuyến.
Với xu hướng phát triển nhanh chóng của điện thoại di động cùng với tính an toàn và tiện ích của dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây đã mở ra triển vọng đầy hứa hẹn cho loại hình dịch vụ NHĐT mới mẻ này. g) Ngân hàng qua điện thoại (Phone banking và Call Center) Phone banking là dịch vụ phân phối, cung cấp thông tin ngân hàng hoàn toàn tự động, hoạt động 24/24. Khách hàng thực hiện theo hướng dẫn của tổng đài để tra cứu các thông tin tài chính như: tỷ giá, lãi suất, số dư tài khoản, các giao dịch gần nhất hay thanh toán hóa đơn, dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Hệ thống cũng sẽ tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin trên.