Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG DÀNH CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 của Quốc hội ngày 17/6/2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Để đánh giá mức độ phát triển và tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp, người ta thường chia các loại hình doanh nghiệp dựa theo tiêu thức về quy mô như: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là tên gọi tắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Quy mô của doanh nghiệp này được đánh giá dựa trên một hoặc một nhóm tiêu chí như vốn, doanh thu, lao động,…Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia, định nghĩa và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa khác nhau. Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa song có thể hiểu DNNVV như sau: “DNNVV là những cơ sở sản xuất - kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, năng lực sản xuất, tổng tài sản, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia’’ (Dương Thị Ngọc Hà, 2022).
Theo định nghĩa được quy định trong Luật Số: 20/VBHN-VPQH Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành ngày 15/07/2020 và Nghị định số 80/2021/NĐ- CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số 6 lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Chỉ tiêu Tổng nguồn vốn Số lao động Doanh thu Doanh nghiệp Doanh thu ≤ 10 tỷ Dưới 3 tỷ Dưới 10 người Siêu nhỏ đồng một năm Doanh nghiệp 50 tỷ đồng trở Số lượng lao động Doanh thu ≤ 100 tỷ nhỏ xuống ≤ 50 người đồng một năm Doanh nghiệp 100 tỷ đồng trở Số lượng lao động Doanh thu ≤ 300 tỷ vừa xuống ≤ 100 người đồng một năm (Nguồn: Chính phủ, 2021) Theo Nghị định trên, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: doanh nghiệp nhỏ và vừa phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo qui định của pháp luật. - Về quy mô: được phân thành 3 cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn - Về tổng nguồn vốn và số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào qui mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 100 người thì quy mô của doanh nghiệp là tương đối nhỏ.
Do vậy nhu cầu vốn cho mỗi lần vay vốn của DNNVV không lớn, giá trị vốn vay của mỗi hợp đồng vay vốn thường nhỏ, điều này giúp cho ngân hàng phân tán được rủi ro hơn là cho vay tập trung vào một vài doanh nghiệp lớn với giá trị hợp đồng vay lớn. Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của DNNVV phong phú 7 DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nên vốn vay được sử dụng vào nhiều mục đích tùy thuộc và loại hình và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh của DNNVV còn hạn chế Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém.
Bên cạnh đó, với quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ ít, năng lực cạnh tranh kém, các DNNVV khó thu hút được các nhà quản lý và đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nên nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường. Thứ tư, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp, nhu cầu vay vốn ngắn hạn nhiều hơn là vay vốn trung và dài hạn. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức đơn giản, bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả, số lượng nhân viên ít và các nhân viên đôi khi đảm nhận nhiều vị trí, công việc cùng một lúc, đã làm tăng hiệu quả hoạt động của DNNVV.
Thứ sáu, kinh nghiệm hoạt động kinh doanh của DNNVV chưa có nhiều Đa số các DNNVV ở nước ta hiện nay là các doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế. Với những DNNVV thành lập 8 khá lâu mà hoạt động SXKD, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng ngũ những doanh nghiệp lớn. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có các vai trò sau Thứ nhất, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tăng thu nhập quốc dân Do quy mô nhỏ và vừa nên số lượng các DNNVV nhiều, lợi thế của mình, các DNNVV rất thích hợp với khu vực kinh doanh thương mại dịch vụ bán lẻ nên các DNNVV đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh chóng thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều.Thu hút được một lượng vốn nhàn rỗi trong dân, khai thác tận dụng được các tiềm năng thế mạnh của từng vùng, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, DNNVV đã đóng góp một phần không nhỏ và sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thứ hai, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động Các DNNVV thường hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và giao thông vận tải lại thường sử dụng công nghệ lạc hậu, nửa cơ giới, nửa thủ công do vậy khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp này là rất lớn.
Thứ ba, góp phần giữ ổn định nền kinh tế Ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. DNNVV tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng vì các DN này thường chỉ chuyên sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Thứ tư, góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường Việc phát triển không ngừng của các DNNVV tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ giữa các DN kể cả với các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế. Do đó chính hoạt động kinh doanh của các DNNVV làm cho nền kinh tế trở nên năng động, linh hoạt hơn, lộ trình hội nhập với kinh tế thế giới cũng vì thế được rút ngắn hơn.
Thứ năm, góp phần vào đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá 9 Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại địa phương, không phải di chuyển đi xa. Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ngay tại nông thôn, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, thực hiện quá trình đô thị hoá phi tập trung. Thứ sáu, là môi trường đào tạo, khởi nghiệp và phát triển kinh doanh Các DNNVV là nơi đào tạo, khởi nghiệp cho các nhà DN. Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà DN làm quen với môi trường kinh doanh.
Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô nhỏ và vừa, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành. Dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm - Dịch vụ Theo Lưu Đan Thọ và cộng sự: "Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm võ hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người" (Lưu Đan Thọ, 2016). - Dịch vụ ngân hàng Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chỉ hàng nghìn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tuỳ theo trình độ phát triển của ngân hàng.
Thực tiễn ngày nay đặt ra yêu cầu cấp bách cho các NHTM Việt Nam là phải phát triển, đa dạng và nâng cao chất lượng các nghiệp vụ kinh doanh của mình.