Chương 1: Lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam. 5 CHUÔNG 1 L Ý L U Ậ N C ơ B Ả N VÈ P H Á T T R I Ẻ N D Ị C H v ụ N G Â N H À N G B Á N L Ẻ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG M ẠI LL TỎNG QUAN VÈ DỊCH v ụ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL và ngân hàng bán lẻ hiện tại chưa có một khái niệm thống nhất, tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà được hiểu theo các cách khác nhau. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam 2010 và Luật sửa đổi Luật các TCTD Việt Nam 2017 thì không có khái niệm dịch vụ NHBL tuy nhiên theo khoản 12, điều 4 thì có thể hiểu dịch vụ NHBL là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên đến KHCN một hoặc một số nghiệp vụ về tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Theo khái niệm trên chỉ đề cập đến một trong hai khía cạnh của dịch vụ NHBL là (i) nhóm đối tượng khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ chính là các cá nhân (người tiêu dùng) và các doanh nghiệp nhỏ; (ii) các dịch vụ NHBL điển hình. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì dịch vụ NHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà KHCN có thể đến giao dịch tại những chỉ nhánh (phòng giao dịch) của các ngân hàng dể thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm,. Theo quan điểm của giáo sư Federic s.Mishkin, trường đại học Columbia, Hoa Kỳ, tác giả cuốn sách “Tiền tệ, ngân hàng và các thị trường tài chính” thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phắm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viên thông. 6 Qua hai khái niệm này đã giúp người đọc nhận thấy phương thức tiếp cận của KHBL với ngân hàng là (i) trực tiếp (qua mạng lưới chi nhánh) (ii) gián tiếp qua các hệ thống thông tin và điện tử viễn thông.
Như vậy, mặc dù với cách tiếp cận khác nhau nhưng hoạt động NHBL là hoạt động của ngân hàng hướng tới khách hàng là cá nhân, hộ kinh doanh nhỏ và trong một số trường họp có thể bao gồm doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tùy theo định hướng phát triển cụ thể mà các ngân hàng có thể xác định đổi tượng khách hàng phù họp. Tại luận văn này, quan điểm dịch vụ NHBL được hiểu như sau: “Dịch vụ NHBL là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới tùng cá nhân bán lẻ; hộ kinh doanh cá thể thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện CNTT, điện tử viên thông”. Sổ lượng khách hàng lớn, quy mô giao dịch nhỏ dẫn tới chi phí bình quân cho môi giao dịch cao Sự khác biệt của dịch vụ NHBL với ngân hàng bán buôn là việc cung ứng sản phẩm nhỏ lẻ tới từng đối tượng KHBL riêng biệt, theo đó số lượng khách hàng ở phân khúc này rất lớn.
Giá trị giao dịch với mỗi khách hàng nhỏ dẫn tới chi phí bình quân tính cho mỗi giao dịch lớn (bao gồm chi phí thấm định; giám sát khoản vay; chi phí khác liên quan đến giao dịch gồm hồ sơ, giải ngân,. Mặc dù chi phí giao dịch cho mỗi giao dịch cao, lợi nhuận trên từng hợp đồng vay nhỏ nhưng số lượng giao dịch lớn, thường xuyên do đó, lợi nhuận đạt được từ nhóm khách hàng là đáng kể, ổn định. Tính lợi thế theo quy mô này là đặc điểm riêng biệt của dịch vụ NHBL so với dịch vụ NH bán buôn. Đổi tượng khách hàng đa dạng dẫn tới ngân hàng phải đa dạng danh mục sản phẩm và đa kênh phân phổi Việc phân loại đối tượng KHBL đa dạng do có sự khác nhau về độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ, sở thích, nhu cầu,.
do vậy tùy từng nhóm khách hàng mà ngân hàng cần xây dựng sản phấm và chính sách khách hàng phù hợp. Mặt khác, nhu cầu khách hàng mang tính thời diem do vậy ngoài việc xây dựng danh n mục sản phẩm đa dạng, ngân hàng cần áp dụng khoa học công nghệ để xây dựng kênh phân phối đa dạng hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm. Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống: Chi nhánh, phòng giao dịch, các NHTM có thể triển khai dịch vụ thanh toán qua máy rút tiền tự động (ATM), qua điện thoại (Phone Banking); qua internet (internet Banking), dịch vụ ngân hàng tại nhà (home Banking), POS,. Nhu cầu khách hàng mang tính thời điểm đòi hỏi mức độ chuyên môn hóa cao trong việc tiếp cận và phân phối sản phẩm nhanh nhất, tiện lợi nhất Nhu cầu của con người theo mỗi giai đoạn nhất định có những mong muốn, nhu cầu khác nhau và mức độ thỏa mãn khách hàng đòi hỏi các sản phẩm phong phú đa dạng tùy từng giai đoạn, từng điều kiện phát triển.
Do yếu tố thời vụ mà các ngân hàng cần xây dựng lực lượng lao động chuyên biệt, xây dựng nhiều kênh và địa điếm cung ứng, mức độ công nghệ cao để phân phối sản phẩm nhất, tiện lợi nhất. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ đáp ứng nhu cầu phân tán rủi ro trong kinh doanh của Ngăn hàng Với số lượng khách hàng lớn, giá trị giao dịch nhỏ nên rủi ro trên mỗi giao dịch thấp. Đây là đặc điểm khác biệt so với dịch vụ ngân hàng bán buôn. Điều này giúp các ngân hàng phân tán rủi ro tốt trong hoạt động kinh doanh.
Với những đặc điểm trên đây của dịch vụ NHBL không những thể hiện ưu điểm của dịch vụ NHBL mà còn đặt ra cho các ngân hàng phải định ra những chính sách quản lý và vận hành mảng dịch vụ NHBL của mình sao cho hiệu quả nhằm đem lại bước tiến vững chắc và tăng trưởng ổn định. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Dịch vụ huy động von bán lẻ Đây là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng, nằm trong cơ cấu tài sản nợ và góp phân hình thành nguồn vốn hoạt động của NHTM. Ngân hàng huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế thông qua các hình thức: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá.
8 - Tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản thanh toán để chi trả cho người được hưởng về tiền hàng hóa, cung ứng dịch vụ Nhìn chung, lãi suât của khoản tiên này rât thâp và một sô nơi tren the gioi thạm chí lãi suất bằng không, mặc dù nó chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tiền gửi tại ngân hàng. Do đó, để tăng tính cạnh tranh và duy trì tính ổn định của nguồn vốn này thì các ngân hàng cần phải cân nhăc giữa mục tiêu tôi thiêu hoá chi phi va toi đa hoa tăng trưởng. - Tiền gửi tiết kiệm: Từ lâu, tiền gửi tiết kiệm được coi là công cụ huy động vốn truyền thống và mang tính ôn định cao của các ngân hàng.
Vi vạy, cac ngan hàng đều cố gắng khuyến khích người dân gửi tiêt kiệm băng các chinh sach gia, đa dạng trong hình thức huy động. Hình thức phô biên và cô điên nhat la loại tien gưi tiết kiệm có kỳ hạn. Ngoài ra, hiện nay các ngân hàng đang triển khai rất nhiều sản phẩm đa dạng liên quan đên loại hình này như: tiên gứi tiet kiẹm bạc thang, tiet kiệm trả lãi trước, trả lãi cuôi kỳ. Vê phương thức thực hiện, khách hang co the thực hiện trực tiếp tại quây giao dịch hoặc gửi tiêt kiệm online - giup giam thơi gian va chi phí đi lại.
_ Phát hành giấy tờ có giá: Ở nhiều nước trên thế giới còn có các loại tiền gửi tiết kiệm phổ biến như chứng chỉ tiêt kiệm, trái phiêu tiêt kiệm đoi VƠI khach hang dan cư và các hợp đồng tiền gửi đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dịch vụ tín dụng bán lẻ Hiện nay, dịch vụ tín dụng bán lẻ ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển nhờ đó, ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Một số loại hình dịch vụ tín dụng bán lẻ cơ bản và thường gặp nhất có thể kể đến như: cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh, cho vay trả góp. Cụ thê: - Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng, trong đó, ngân hàng thỏa thuận với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình được sư dụng mọt khoản tiền với mục đích tiêu dùng trên nguyên tăc khách hàng phái hoàn trá cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi sau một thời gian nhât định theo thỏa thuận.
9 Căn cứ vào mục đích vay vốn, cho vay tiêu dùng bao gồm: (i) Cho vay tiêu dùng cư trú: là khoản cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm, cải tạo và sửa chữa nhà cửa; (ii) Cho vay tiêu dùng không cư trú: là những khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, đi du học. Đặc điểm của loại hình này là nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, nhu cầu vay của khách hàng ít co giãn với lãi suất do khách hàng ít có lựa chọn nguồn vốn thay thế. Khi đời sống và trình độ dân trí nâng cao, người dân phát sinh ngày càng nhiều nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sông, kéo theo thị trường của tín dụng tiêu dùng rộng và ngày càng phát triển. Tuy nhiên, nhược điểm của loại hình này là thông tin tài chính có chất lượng thâp và không đây đủ; tiềm ẩn rủi ro đạo đức do luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo.