CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại đã ra đời và phát triển từ rất lâu và gắn liền với các giai đoạn phát triển của thị trường và nền kinh tế, có tác động qua lại với nhau, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cũng khiến ngân hàng thương mại ngày một hoàn thiện và trở thành một định chế tài chính vô cùng quan trọng.
Thực tế có tương đối nhiều khái niệm về NHTM như: Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010) “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.[15] Ở Việt Nam theo Nghị định số 59/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và quy định khác của pháp luật” [17] Có thể nói NHTM là một định chế tài chính cung cấp tất cả các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản như huy động vốn, cho vay và dịch vụ thanh toán. Xã hội ngày càng phát triển, NHTM còn đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ khác để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các hoạt động của NHTM có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới tất cả ngành nghề trong nền kinh tế.
Nhờ có các NHTM mà các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước được thực hiện một các nhanh chóng và kịp thời, từ đó dễ dàng kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp theo đúng pháp luật. Chức năng của NHTM 7 • NHTM là trung gian tài chính NHTM sẽ tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Trung gian tài chính chính là vai trò đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM, nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế. NHTM sẽ là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, đem vốn của những người nhàn rỗi cho người có nhu cầu về vốn mượn.
• NHTM là trung gian thanh toán NHTM sẽ đứng ra là trung gian thanh toán cho bên mua và bên bán hàng hóa, các hình thức thanh toán phổ biến có thể kể tới là ủy nhiệm chi - thu, séc, L/C, chuyển tiền… Thanh toán qua ngân hàng thì ngày càng phổ biến trong quá trình thanh toán, phục vụ cho hoạt dộng kinh doanh của người dân. • Chức năng tạo tiền Quá trình tạo tiền của NHTM về bản chất là quá trình kết hợp giữa hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán, làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Khi ngân hàng sử dụng khoản tiền gửi để cho vay, khách hàng sử dụng tiền vay (số dư trên tài khoản trung gian thanh toán) để thanh toán hàng hóa dịch vụ. tức là ngân hàng đã tạo tiền.
Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi các hoạt động này được thực hiện bằng chuyển khoản, ghi Nợ cho tài khoản này, ghi Có cho tài khoản liên quan. Phân loại NHTM • Căn cứ theo hình thức sở hữu - Ngân hàng thương mại nhà nước: hình thành và tổ chức hoạt động theo dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có 100% vốn điệu lệ do Nhà nước sở hữu, giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ở nước ta và được Nhà nước cấp vốn và hoạt động dưới sự quàn lý của Nhà nước. Bên cạnh những hoạt động kinh doanh thông thường: huy động vốn, tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác, ngân hàng còn phải thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Nhà nước. - Ngân hàng thương mại cổ phần: hình thành và hoạt động theo hình thức công ty cổ phần.
Các cổ đông là người sở hữu ngân hàng, họ góp vốn (gọi là cổ phần) để 8 thành lập và hoạt động theo các quy định của pháp luật. - Ngân hàng liên doanh: thành lập dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh, có sự góp vốn giữa ngân hàng Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài, có trụ sở chính ở Việt Nam và hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam. - Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là một phần của ngân hàng nước ngoài, hoạt động tại Việt Nam và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. - Ngân hàng đầu tư: có mục tiêu hoạt động là đầu tư trung và dài hạn, hoạt động đầu tư là đầu tư gián tiếp qua các giấy tờ có giá.
- Ngân hàng phát triển: nét đặc trưng khi nhắc tới ngân hàng phát triển đó chính là tập trung vốn huy động trung và dài hạn với mục tiêu đầu tư là phát triển. Cách thức đầu tư chính là đầu tư trực tiếp thông qua các dự án. - Ngân hàng chính sách: có 100% vốn Nhà nước hay ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước được thành lập để thực hiện những chính sách của Nhà nước. Mục tiêu khác với những loại hình ngân hàng khác là không vì mục tiệu lợi nhuận.
- Ngân hàng hợp tác: còn có tên gọi khác là tổ chức tín dụng hợp tác, là các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập tự nguyên và mục tiêu hoạt động không vì lợi nhuận mà hướng tới sự hỗ trợ lẫn nhau. • Căn cứ theo đối tượng mà NHTM cung cấp dịch vụ - Ngân hàng bán buôn: cung ứng các sản phẩm dịch vụ có giá trị lớn, đặc biệt dành cho doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức tài chính ngân hàng và phi ngân hàng. - Ngân hàng bán lẻ: cung ứng các sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh và các đối tượng kinh doanh nhỏ lẻ khác. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Trong nền kinh tế hiện nay thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang là xu thế phát triển và đem lại lợi nhuận lớn.
Với cách hiểu thông thường nhất thì ngân hàng bán lẻ sẽ cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bàn dành cho phân khúc khách hàng là những cá nhân, hộ kinh doanh và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bên cạnh đó cũng còn có một số định nghĩa 9 về dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ theo quan niệm của Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO) cho rằng: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến tay từng cá nhân riêng lẻ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông. “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân” – Theo từ điển Ngân hàng và Tin học – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1996). [16] Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT: “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”.[14] Dịch vụ ngân hàng bán lẻ mang tính vô hình, do đó khách hàng sẽ có những đánh giá bằng việc trải nghiệm các dịch vụ tiện ích mà nó mang lại. Do đó, dịch vụ luôn luôn phải phát triển liên tục cả về hình thức, tính năng linh hoạt để phù hợp với yêu cầu ngày một cao của khách hàng thì mới có thể tồn tại và phát triển lâu bền được.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ • Đối tượng của dịch vụNHBL gồm cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa và nhỏ Phân khúc khách hàng hướng đến là cá nhân, hộ kinh doanh và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm tỷ trọng lớn trong số các doanh nghiệp trên thế giới, với Việt Nam con số này là 95%). Đây là thị trường rất màu mỡ phong phú và đa dạng về thu nhập, thị hiếu, nhu cầu, … rủi ro sẽ được phân tán và sẽ là mảng kinh doanh mang lợi nhuận tốt, tương đối ổn định và khá an toàn cho các NHTM. • Số lượng giao dịch lớn, giá trị từng giao dịch nhỏ, chi phí giao dịch cao 10 Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ là khá lớn và đa dạng nhưng quy mô mỗi giao dịch lại không lớn và chỉ tương ứng với nhu cầu phát sinh của họ. Tuy nhiên đây sẽ là nguồn huy động chính và tương đối ổn định, giúp ngân hàng tăng trưởng và phát triển bền vững hơn, bởi vì dù nguồn vốn được huy động từ mỗi giao dịch là chưa nhiều nhưng lại từ nhiều các nhóm khách hàng, với sự đa dạng từ nhiều kì hạn và sản phẩm khác nhau.
Bên cạnh đó, đối với những món vay của khách hàng là cá nhân và hộ gia đình thì chi phí cho các hoạt động thẩm định, kiểm tra, kiểm soát sau vay và quản lý khách hàng lại khá lớn. Do đó các ngân hàng cần ứng dụng các nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và các chính sách phù hợp nhằm giảm thiểu tối đa các chi phí phát sinh mà vẫn đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng, qua đó vừa tăng được lợi nhuận lại vừa giữ được mối quan hệ với các khách hàng của mình. • Mạng lưới phân phối rộng, sản phẩm đa dạng Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu rất đa dạng của khách hàng thì ngân hàng cần phải trang bị nhân sự và hệ thống phân phối rộng khắp.