CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.1 Dịch vụ và dịch vụ ngân hàng: 1.1 Khái niệm dịch vụ: Dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hoá - dịch vụ. Dịch vụ có các đặc tính sau: tính không thể tách rời, tính vô hình, tính chất không đồng nhất và không lưu trữ được.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng là một loại hình cơ bản trong số các loại hình dịch vụ tài chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại và phong phú về hình thức.
Tại Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm chính thức về dịch vụ ngân hàng, nhưng có thể hiểu dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng là tất cả các dịch vụ mà hệ thống ngân hàng thương mại có thể cung cấp cho nền kinh tế. Theo Luật các Tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1997 và sửa đổi năm 2004, dịch vụ ngân hàng cũng đã được đề cập tới tại khoản 1 và khoản 7 điều 20, nhưng không có giải thích cụ thể. Theo Luật, toàn bộ “ hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả 3 nội dung, đó là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. WTO đưa ra định nghĩa: Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Trong lộ trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là bước thử thách đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng vì nội dung chủ yếu của Hiệp định này giống như các nội dung của thoả thuận chung về Thương mại dịch vụ (GATS), chỉ khác về thời điểm có hiệu lực. Theo đó, các cam kết mở cửa DVNH được thực hiện theo lộ trình 9 năm trước khi mọi cam kết đối với các NH Mỹ được bãi bỏ. Sự cạnh tranh giữa các NHTM 13 Việt Nam và NH nước ngoài chủ yếu là cạnh tranh về dịch vụ, điều này đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược phát triển các DVNH một cách hoàn chỉnh và kịp thời. Các DVNH theo GATS là nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán, thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, DV thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, DV tư vấn, trung gian và hỗ trợ về tài chính.
Nói chung, mặc dù tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ ngân hàng chưa được đề cập tới một cách đầy đủ trong Luật các TCTD nhưng theo thông lệ quốc tế thì dịch vụ ngân hàng có thể hiểu là toàn bộ các dịch vụ có liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… mà hệ thống các ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.3 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm chung là: - Tính vô hình: Đây là đặc điểm chủ yếu để phân biệt dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế. Đặc điểm này làm cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng. Vì thế các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng rất chú trọng đến việc tạo nên niềm tin đối với khách hàng bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường quảng bá hình ảnh, uy tín. - Tính không thể tách rời: là đặc điểm phát sinh do quá trình cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ xảy ra đồng thời.
Mặt khác, quá trình cung ứng các dịch vụ này được tiến hành theo những quy trình nhất định, không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người sử dụng khi khách hàng có nhu cầu về dịch vụ và đáp ứng những điều kiện cần thiết của nhà cung cấp. Đặc tính này sẽ chi phối giá cả dịch vụ nhằm đảm tổ chức cung ứng dịch vụ và người sử dụng cùng tồn tại, cùng có lợi và phát triển bền vững. - Tính không đồng nhất: Dịch vụ ngân hàng có chất lượng không đồng nhất vì chúng được cấu thành bởi nhiều yếu tố và luôn thay đổi theo thời gian như: uy tín của ngân hàng, công nghệ, trình độ nhân viên, yêu cầu khách hàng…mà quan trọng nhất là uy tín của ngân hàng. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ nhưng lại thường xuyên biến động nên rất khó xác định chính xác.2 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ: 1.1 Khái niệm : * Ngân hàng bán lẻ: là khái niệm chỉ những ngân hàng lớn, nhiều chi nhánh mà đối tượng phục vụ thường là các khách hàng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình hay doanh nghiệp vừa và nhỏ với các dịch vụ là tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp, cho vay cá nhân, các loại thẻ tín dụng.
Theo đó thì phần đông người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Ngược lại với NHBL là NH bán buôn là dạng ngân hàng chuyên cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế, các NHTM và các tổ chức tài chính khác làm vai trò trung gian cho các doanh nghiệp. Theo Jean Paul Votron - Ngân hàng Foties (một tập đoàn tài chính hàng đầu Châu Âu) thì “ Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối”. Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động mà trong đó khai thác các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại.
Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính, đó là thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Theo quan điểm của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thì NHBL là ngân hàng phục vụ cho thị trường đại chúng nơi mà các khách hàng cá nhân, hộ gia đình được cung cấp dịch vụ qua mạng lưới chi nhánh địa phương của các ngân hàng. * Dịch vụ ngân hàng bán lẻ: là những dịch vụ được cung cấp theo nhu cầu của các khách hàng cá nhân và hộ gia đình. Đây là những dịch vụ vừa truyền thống, vừa hiện đại chứa đựng hàm lượng công nghệ cao, đem lại nhiều tiện ích cho những khách hàng nhỏ lẻ.
Như vậy, chỉ có thể hiểu đúng về dịch vụ ngân hàng bán lẻ là như thế nào và ai tham gia vào thị trường dịch vụ NHBL thì Ngân hàng mới hoạch định đúng chiến lược của mình trong trong sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ các DVNH Việt Nam, nhất là khối bán lẻ trong quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ: 1.1 Lợi thế của dịch vụ NHBL: Vấn đề đặt ra là tại sao các NHTM Việt Nam đang cùng nhau hướng đến việc phát triển DVNH bán lẻ? Thị trường này hứa hẹn điều gì, có lợi thế gì cho sự phát triển của các Ngân hàng? Theo kinh nghiệm của một vài Ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (HSBC, ANZ là 2 ngân hàng nổi tiếng toàn cầu về dịch vụ ngân hàng bán lẻ) thì thị trường bán lẻ là một thị trường màu mỡ, sôi động, hứa hẹn nhiều tiềm năng cho sự phát triển của DVNH bán lẻ. Ở nơi đó chúng ta sẽ thấy DVNH bán lẻ: + Phục vụ cho các cá nhân và hộ gia đình/các doanh nghiệp nhỏ và vừa. + Có số lượng khách hàng lớn vì Việt Nam là một đất nước đông dân. + Số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị mỗi giao dịch có thể nhỏ.
+ Đơn giản, dễ thực hiện, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và mạng lưới chi nhánh rộng rãi. + Đa dạng hoá sản phẩm - dịch vụ. + Đem lại doanh thu cao vì thu nhiều hơn chi phí bỏ ra, chắc chắn, phân tán được rủi ro. + Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với NHTM, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM.2 Rủi ro từ dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Hoạt động NHBL trên thực tế đã mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều ngân hàng.
Tuy nhiên với đặc thù là khách hàng cá nhân và hộ gia đình nên số lượng khách hàng rất lớn, đa dạng; số lượng giao dịch phải xử lý nhiều. Các công đoạn thực hiện tác nghiệp đơn giản hơn so với hoạt động ngân hàng bán buôn nhưng hệ thống thông tin chung về nhóm khách hàng cá nhân chưa được xây dựng đầy đủ và hoàn chỉnh. Vì vậy, trong quá trình đẩy mạnh hoạt động ngân hàng bán lẻ cần chú ý một số loại rủi ro điển hình sau đây: * Rủi ro tác nghiệp: - Rủi ro trong quá trình khởi tạo, cập nhật thông tin khách hàng: 16 Đây là loại rủi ro liên quan đến hành vi gian lận của khách hàng và của cán bộ ngân hàng. Khách hàng có thể dùng chứng minh thư/ hộ chiếu giả để mở tài khoản, nhân viên ngân hàng tiếp nhận giấy tờ giả để tạo thông tin khách hàng, mở tài khoản khi chưa có đầy đủ hồ sơ, tự ý chỉnh sửa thông tin khách hàng khi chưa có thẩm quyền… - Rủi ro trong nghiệp vụ tiền gửi: Khách hàng lợi dụng sơ hở đánh cắp hoặc làm giả giấy tờ, mạo chữa ký để đến rút tiền ngân hàng.