lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về DVNHBL và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hoàn Kiếm. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ VÀ 2 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA 3 NGÂN HÀNGTHƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hiện nay chƣa có định nghĩa chính xác về dịch vụ NHBL. Các quan điểm về dịch vụ NHBL dựa trên loại hình dịch vụ hoặc đối tƣợng khách hàng mà các sản phẩm hƣớng tới. Theo cách hiểu phổ biến nhất, NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các DNNVV.
Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa dịch vụ nhƣ sau: “ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” [11] Bên cạnh đó, có một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin trong các sản phẩm ngân hàng cung cấp. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện nghiên cứu Châu Á – AIT cho rằng, NHBL là cung cấp trực tiếp sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lƣới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và CNTT. Theo cuốn “ Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại ” của tác giả David Cox, hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thƣơng mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng bán lẻ [3].
Như vậy, quan điểm này hướng tới đối tượng DVNHBL bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa là chính. Từ điển giải nghĩa Tài chính – Đầu tƣ – Ngân hàng – Kế toán Anh Việt, quan niệm: Dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng đƣợc thực hiện với khách hàng là công chúng, thƣờng có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh, còn dịch vụ NHBB là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng đƣợc cung cấp với số lƣợng lớn. 8 Theo quan niệm này có sự mở rộng phạm vi đối tƣợng phục vụ so với quan điểm của các chuyên gia kinh tế của Học viện nghiên cứu Châu Á – AIT. Theo quan niệm này thì đối tƣợng là công chúng, thƣờng có quy mô nhỏ tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phƣơng tiện thông tin, điện tử viễn thông.
Theo quan điểm của chuyên gia ngân hàng Foties - Jean Paul Votron: “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối”. Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trƣờng, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ,[22]. Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lƣới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và DVNH thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT) [14].
Nhƣ vậy, qua các định nghĩa trên có thể thấy hai quan niệm khác nhau về DVNHBL, một quan niệm cho rằng, đối tƣợng DVNHBL bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa; một quan niệm cho rằng, đối tƣợng DVNHBL chỉ bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Từ đó, có thể hiểu dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đối tƣợng của DVNHBL là các khách hàng cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó số lƣợng khách hàng của ngân hàng bán lẻ lớn hơn rất nhiều so với ngân hàng bán buôn”[12]. Thứ nhất, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ lớn Đối tƣợng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, hộ gia đình, DNNVV.
Đây là nhóm đối tƣợng khách hàng có số lƣợng rất lớn và đa dạng về hình thức phục vụ. Quy mô dân số ngày càng tăng cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội làm gia tăng đối tƣợng khách hàng sử dụng dịch vụ này. 9 Nhƣ vậy, đối tƣợng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ đa dạng, phong phú với số lƣợng rất lớn, nhƣng giá trị từng khoản giao dịch không cao và khách hàng chủyếu là cá nhân và doanh nghiệp thậm chí siêu nhỏ về quy mô và tiềm lực kinh tế. Đây là lực lƣợng khách hàng lớn, còn nhiều tiềm năng, đang có nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ NHBL nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất kinh doanh, nâng cao giá trị và tiện ích trong cuộc sống [21].
Thứ hai, chi phí bình quân trên mỗi giao dịch cao Dịch vụ NHBL đáp ứng cho các nhu cầu giao dịch thƣờng xuyên của khách hàng. Số lƣợng giao dịch là rất lớn nhƣng giá trị trên mỗi giao dịch thƣờng không lớn, do vậy chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao nhƣng lợi nhuận thu đƣợc trên tổng số giao dịch là đáng kể. Dịch vụ NHBL nhƣ thanh toán tiền hàng, chuyển khoản, chuyển vốn… phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ cần một sự đầu tƣ lớn vào mạng lƣới, dịch vụ, nhân sự, phần mềm, và thiết bị. Do đó, trong bối cảnh nhu cầu tiềm năng còn khá hạn chế, chi phí dịch vụ bán lẻ tính trên đầu ngƣời hay giao dịch sẽ trở nên quá lớn, không kinh tế với đa số ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam.
Nhƣng nếu tìm cách tăng cƣớc phí dịch vụ để bù đắp chi phí thì số lƣợng khách hàng muốn và sẵn lòng sử dụng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng sẽ sụt giảm một cách tự nhiên hoặc bị các ngân hàng đối thủ cạnh tranh “vợt” mất khi họ cũng đang tích cực tìm kiếm cơ hội phát triển. Thứ ba, dịch vụ NHBL phát triển phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của công nghệ Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép các ngân hàng có thể lƣu trữ dữ liệu tập trung, xử lý giao dịch trực tuyến, phát triển các sản phẩm NHBL điện tử, tạo ra nhiều kênh phân phối sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhóm khách hàng này. Công nghệ thông tin cũng giúp các NHTM quản trị và khai thác dữ liệu tập trung, nhất quán, nhanh chóng và chính xác. Hiện nay, hệ thống các chi nhánh của ngân hàng đang là kênh phân phối truyền thống cung cấp tới khách hàng các dịch vụ khách hàng cá nhân riêng lẻ.
Bên cạnh đó, cũng xuất hiện những kênh phân phối mới thông qua sự trợ giúp của công nghệ thông tin nhƣ ATM, Mobile Banking.với nhiều ƣu điểm về thời gian và mức phí. Đa dạng hoá kênh phân phối là việc lựa chọn một hoặc một số kênh phân phối nhằm tạo ra một 10 hệ thống kênh phân phối hỗn hợp, bổ khuyết lẫn nhau trong hoạt động, nhằm tăng cƣờng khả năng phục vụ khách hàng, tạo ra đƣợc chất lƣợng dịch vụ tốt cho khách hàng cá nhân tới sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, giảm mức phí và giảm bớt công việc cho nhân viên tại hệ thống chi nhánh. Hơn nữa, việc thiết lập và gắn kết các kênh phân phối mới sẽ tạo ra khả năng cho các chi nhánh lẻ đem lại, từ đó tăng năng suất lao động. Thứ tư, dịch vụ NHBL có độ rủi ro thấp Đây là đặc điểm khác biệt so với dịch vụ NHBB.
Đối tƣợng khách hàng của dịch vụ NHBL có số lƣợng rất lớn, giá trị của mỗi giao dịch thƣờng nhỏ, rủi ro đƣợc phân tán và mang lại nguồn doanh thu ổn định và an toàn cho các NHTM. Năm 2015 đã chứng kiến những chuyển biến mang tính chiến lƣợc và đột phá của ngành ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam. Toàn ngành đang chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới - Hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Việt Nam đƣợc đánh giá là một thị trƣờng đầy tiềm năng với dân số trẻ, tầng lớp trung lƣu tăng nhanh cũng nhƣ tỷ lệ cá nhân sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn thấp.
Theo Báo cáo khảo sát toàn cầu về ngân hàng bán lẻ năm 2014 của Công ty Kiểm toán Ernst & Young, 75% trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam vẫn chƣa sử dụng dịch vụ ngân hàng, mật độ chi nhánh ngân hàng, máy rút tiền tự động (ATM), máy POS trên đầu ngƣời hiện vẫn ở mức thấp hơn so với các nƣớc trong khu vực. Do đó, các ngân hàng tại Việt Nam đang ngày càng quan tâm đầu tƣ phát triển mảng ngân hàng bán lẻ, tăng cƣờng ứng dụng những giải pháp kinh doanh sáng tạo,công nghệ hiện đại, không ngừng nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bán lẻ, ngân hàng điện tử, ngân hàng trên di động. Thứ năm, nhạy cảm với chính sách Marketing Khách hàng của dịch vụ NHBL rất nhạy cảm với các chính sách Marketing nhƣ: giá cả, sản phẩm, hoạt động khuếch trƣơng, phân phối…Giá cả của dịch vụ ngân hàng đƣợc biểu hiện ở các khoản phí sử dụng dịch vụ, lãi suất huy động, lãi suất cho vay…Khách hàng của ngân hàng có thể từ bỏ ngân hàng này có mức lãi suất tiền gửi thấp để đến một ngân hàng khác có mức lãi suất hấp dẫn hơn. Bên 11 cạnh đó, cũng có những khách hàng không đặt nặng vấn đề giá cả của dịch vụ mà quan tâm đến chất lƣợng dịch vụ nhiều hơn.
Với những khách hàng này, nếu đƣợc ngân hàng phục vụ tốt, họ sẽ là những khách hàng rất trung thành với ngân hàng [23].