Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) bởi các nhà khoa học tiếp cận khái niệm này dưới nhiều góc độ khác nhau.
Các quan điểm về dịch vụ NHBL dựa trên loại hình dịch vụ hoặc đối tượng khách hàng mà các sản phẩm hướng tới. Theo cách hiểu phổ biến nhất, NHBL là dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các DNVVN. Theo Tổ chức Thương mại thế giới: “dịch vụ NHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi mà các HCN có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp, vay vốn, dịch vụ thẻ cho vay, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm”. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện nghiên cứu châu Á: “NHBL là cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin”.
Theo Từ điển tài chính, đầu tư, kinh tế của tạp chí Forbes: “NHBL là hoạt động ngân hàng phục vụ cho thị trường đại chúng nơi mà các khách hàng cá nhân được cung cấp dịch vụ qua mạng lưới chi nhánh địa phương của các ngân hàng. Các dịch vụ NHBL cung cấp bao gồm: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kì hạn, tín dụng cá nhân, tín dụng hộ gia đình, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và một số dịch vụ khác”. Tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ NHBL chưa được quy định cụ thể tại bất kỳ 9 văn bản pháp lý nào và chỉ mới được nhắc đến thông qua một số tác giả. Có thể kể đến như sau: Tô Thiện Hiền (2020) cho rằng: “dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện thông tin điện tử viễn thông”.
Vũ Hồng Thanh (2020) tiếp cận khái niệm dịch vụ NHBL: “là các hoạt động kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ mạnh mẽ của các ngân hàng, các tổ chức tài chính…, để cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính và phi tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình ….nhằm đem đến một trải nghiệm tốt nhất và gia tăng tối đa các tiện ích cho khách hàng”. Qua nhiều cách định nghĩa khác nhau, có thể thấy khái niệm về dịch vụ NHBL rất đa dạng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các ngân hàng có xu hướng cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ nên đối tượng khách hàng của các dịch vụ NHBL cũng mở rộng ra đối với không chỉ KHCN mà còn bao gồm cả các DNVVN trong nền kinh tế. Từ cách tiếp cận trên, có thể khái niệm về dịch vụ NHBL của NHTM: “là hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ trực tiếp đến các cá nhân, hộ gia đình, các DNVVN nhằm thỏa mãn các nhu cầu về tài chính thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc các phương tiện điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin.
Các dịch vụ NHBL bao gồm dịch vụ huy động vốn, cho vay, dịch vụ thẻ, thanh toán, ngân hàng điện tử và các dịch vụ khác như tư vấn quản lý tài chính, cho thuê két sắt và giữ hộ tài sản, bảo lãnh ngân hàng, mua bán bảo hiểm…”. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ NHBL của NHTM thường có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, về khách hàng. Đặc điểm đầu tiên và cũng là điểm khác biệt so với đối tượng của dịch vụ ngân hàng bán buôn có khách hàng là các công ty, doanh nghiệp, tổ chức lớn, thì đối tượng khách hàng của NHBL chính là các cá nhân, hộ gia đình, các DNVVN. Có thể 10 nói đây là những đối tượng hết sức đa dạng trong nền kinh tế với số lượng tương đối lớn.
Đối với các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, các ngân hàng sẽ đưa ra các dịch vụ hết sức phong phú để phù hợp với nhu cầu của các đối tượng này như là gửi tiền, mở tài khoản thanh toán, vay vốn kinh doanh, cho vay đi học…. Với nhóm khách hàng này, các ngân hàng sẽ nghiên cứu và phân loại cụ thể hơn nữa theo nhóm tiêu chí như: giới tính, trình độ, độ tuổi, nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, nhu cầu sở thích… từ đó sẽ đưa ra những cách ứng xử, chính sách, sản phẩm dịch vụ phù hợp để thu hút khách hàng. Đối với các DNVVN muốn phát triển kinh doanh, đầu tư, mở rộng sản xuất, các ngân hàng sẽ tạo điều kiện cung ứng vốn. Để đánh giá nhu cầu của doanh nghiệp, ngân hàng cũng cần tập trung nghiên cứu thị hiếu, nhu cầu của họ, trên cơ sở đó, đánh giá chính xác năng lực tài chính, phương án kinh doanh, tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ, đặc điểm mùa vụ… từ đó sẽ có chính sách hỗ trợ, cho vay, đưa ra những sản phẩm phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp.
Thứ hai, về số lượng và quy mô giao dịch. Theo phân khúc đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì trên thị trường, số lượng khách hàng này là rất lớn, nhưng quy mô của mỗi giao dịch nhỏ. Mặc dù vậy, nếu ngân hàng biết huy động được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư thông qua việc cung cấp các dịch vụ tiện ích hiện đại, lãi suất hấp dẫn thì sẽ huy động được số tiền không nhỏ từ các đối tượng khách này. Đây cũng chính là nguồn vốn huy động ổn định với chi phí thấp cho ngân hàng, giúp ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh trong hoạt động tài chính.
Đối với những khoản tín dụng cho các khách hàng, ngân hàng cũng cần có chính sách lãi suất hấp dẫn để vừa đảm bảo được lợi ích, vừa giữ được các khách hàng truyền thống lâu năm của mình. So với các khách hàng là các doanh nghiệp lớn thì giá trị các khoản vay/ huy động của các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình quá nhỏ tuy nhiên nếu biết khai thác các đối tượng này bằng nhiều sản phẩm dịch vụ thì sẽ mang lại cho ngân hàng nguồn lợi không nhỏ. 11 Có thể nói, đối tượng khách hàng của dịch vụ bán lẻ là rất lớn, tuy nhiên với giá trị giao dịch không nhiều, nhưng nếu ngân hàng biết tận dụng lợi thế nhờ quy mô của mình thì sẽ thu hút được nguồn lợi nhuận đáng kể, đồng thời nguồn vốn thu hút được lại có tính ổn định và bền vững. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại.
Một trong những điều kiện quan trọng và cần thiết để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay là các ngân hàng cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng những thành tựu khoa học, trí tuệ nhân tạo vào việc cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình. Ngày nay, nhu cầu của của các khách hàng ngày càng đa dạng và đòi ngân hàng phải liên tục đổi mới, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong công tác quản l , để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng về thời gian, không gian, chi phí, tiện ích…Trong hoạt động ngân hàng hiện nay, giữa các ngân hàng cũng có sự cạnh tranh thu hút khách hàng thông qua việc đầu tư, phát triển ứng dụng công nghệ hiện đại để đem lại cho khách hàng nhiều tiện ích nhất. So với dịch vụ truyền thống trước kia, khách hàng phải đến tận ngân hàng và tự làm các thủ tục của mình thì các dịch vụ này ngày nay cũng được áp dụng công nghệ hiện đại nên có thời gian xử lý tương đối nhanh và các ngân hàng cũng rất linh hoạt khi áp dụng với những đối tượng khách hàng có những giá trị giao dịch lớn. Bên cạnh đó, với nhiều sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại nhờ sự đầu tư rất lớn về công nghệ thông tin như: hoạt động thanh toán, rút tiền, chuyển tiền, thanh toán các chi phí qua cây rút tiền tự động ATM, internet banking, mobile banking, thanh toán qua máy POS, thấu chi tài khoản… đã giúp khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào mình muốn.
Thứ tư, mạng lưới phân phối rộng, sản phẩm dịch vụ đa dạng. Hoạt động bán lẻ phụ thuộc rất nhiều vào kênh phân phối sản phẩm để đưa đến tay người tiêu dùng. Do số lượng khách hàng đông nên ngân hàng cần có mạng lưới Chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp để phục vụ khách hàng được nhanh chóng và thuận tiện. Bên cạnh các phòng giao dịch có đội cán bộ chuyên nghiệp, thành thạo về nghiệp vụ, am hiểu tình hình và đối tượng khách hàng để tư vấn, 12 hướng dẫn phù hợp với mục đích của khách hàng, các ngân hàng còn đầu tư rất lớn vào các máy móc tự động, làm thay con người để đáp ứng nhu cầu giao dịch của mọi đối tượng khách hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng được đáp ứng nhu cầu của mình ở mọi lúc, mọi nơi và nhanh chóng nhất.
Do số lượng khách hàng bán lẻ rất đông, khách hàng thuộc nhiều tầng lớp, khác nhau về thu nhập, thói quen, nghề nghiệp, tâm lý xã hội, độ tuổi nên nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng cực kỳ đa dạng và phong phú và cũng đòi hỏi ngân hàng ngày càng có nhiều loại hình mới để phụ hợp hơn với mong muốn của khách hàng.