Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ mobile banking tại Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ mobile banking tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội - Chi nhánh Thanh Xuân. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ mobile banking tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội - Chi nhánh Thanh Xuân. 7 CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MOBILE BANKING CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái quát về Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm, phân loại Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thành lập để kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của NH đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là hoạt động kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán (Phạm Xuân Hòe, 2015). Theo luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/06/2010, thì NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này.Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các DV tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các DV thanh toán. Ngoài ra NHTM còn cung cấp nhiều DV khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu sản phẩm DV của xã hội. NHTM ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế, sự hình thành hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường, đó là sản phẩm của kinh tế thị trường hay là yếu tố cấu thành thị trường tài chính; NHTM nói riêng và thị trường tài chính nói chung có tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau, hệ thống NHTM ổn định, phát triển toàn diện là động lực thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và ngược lại.
Trong các nước phát triển hầu như không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một NHTM nhất định nào đó, NHTM được coi như là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, hoạt động DV của NH càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống 8 con người. Mọi công dân đều chịu tác động từ các hoạt động của NH, dù họ chỉ là KH gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các DV của NH (Nguyễn Thị Mai Trang, 2008). Phân loại Dựa trên mỗi các hình thức khác nhau thì có những cách phân loại ngân hàng riêng, hiện nay theo nguồn thông tin tác giả tổng hợp thì việc phân loại ngân hàng thương mại dựa trên: tính chất sở hữu, tính chất hoạt động và cấu trúc tổ chức.
Thứ nhất, dựa trên tiêu chí phân loại trên tính chất sở hữu, tại Việt Nam đang chia ngân hàng thương mại theo 5 hình thức sau: a) Ngân hàng sở hữu tư nhân: là những ngân hàng được thành lập bằng nguồn vốn của cá nhân. Do lập bằng nguồn vốn của cá nhân nên phạm vi hoạt động của các ngân hàng này thường có quy mô nhỏ tại các vùng địa phương. b) Ngân hàng cổ phần: là những ngân hàng được thành lập bởi các cổ đông thông qua phát hành các cổ phiếu. Nguồn vốn của ngân hàng được tập trung và huy đồng từ nhiều cá nhân nên có khả năng tăng nguồn vốn nhanh nên phạm vi hoạt động lớn.
c) Ngân hàng sở hữu nhà nước: là những ngân hàng được thành lập bằng vốn sở hữu của nhà nước, tùy theo quy mô có thể là ngân hàng của trung ương hoặc của các tỉnh, thành phố. Nhóm ngân hàng này được nhà nước hỗ trợ về nguồn vốn tuy nhiên thùy thuộc vào quy mô có thể ở địa phương hoặc toàn quốc. d) Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường là giữa Ngân hàng trong nước với Ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau (Nguyễn Thị Mai Trang, 2008). e) Ngân hàng nước ngoài: Ngân hàng nước ngoài là những ngân hàng có yếu tố 100% nguồn vốn của nước ngoài nhưng đặt trụ sở, phòng giao dịch tại nước sở tại.
Thứ hai, dựa trên tính chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các ngân hàng thương mại được chia thành các nhóm sau: a) Ngân hàng chuyên doanh: đây là nhóm ngân hàng chỉ tập trung cung cấp ít các dịch vụ và hoặc giới hạn lĩnh vực ngành nghề hỗ trợ. Do giới hạn về dịch vụ 9 cung cấp nên ngân hàng này có tính chuyên môn hóa cao tuy nhiên bị ảnh hưởng nhiều khi ngành nghề ngân hàng hoạt động bị tác động tiêu cực. b) Ngân hàng đa năng: đây là các ngân hàng cung cấp dịch vụ đa dạng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Tính đa dạng sẽ là cơ sở để hình thành lợi nhuận của doanh nghiệp và hạn chế rủi ro so với ngân hàng chuyên doanh.
c) Ngân hàng bán buôn là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các Ngân hàng, các công ty tài chính, cho Nhà nước, cho doanh nghiệp lớn. Ngân hàng bán buôn thường là những Ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng lớn. d) Ngân hàng bán lẻ là những ngân hàng thường cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân các khoản tín dụng nhỏ. Chức năng, vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế 1.
Chức năng của Ngân hàng thương mại a) Thứ hai, chức năng trung gian tài chính Ngân hàng thương mại như là một nhà trung gian, kết nối những đơn vị cá nhân có vốn đầu tư và những đơn vị, cá nhân cần vốn đầu tư. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Ngân hàng thương mại thu được lợi nhuận từ hoạt động này thông qua chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới.
Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại. b) Trung gian thanh toán NHTM thay mặt cho KH, NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và DV, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, NHTM đưa ra cho KH nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu. Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi KH cần. 10 c) Chức năng tạo tiền Sau khi thực hiện chức năng là trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại sử dụng số tiền vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để thanh toán chuyển khoản cho khách hàng ở ngân hàng khác và chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
Khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại phụ thuộc vào các yếu tố như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ dự trữ quá mức, tỉ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán. Thông qua hoạt động tạo tiền của ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán và đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi tiêu của xã hội. Do vậy, nguồn tiền giao dịch trong xã hội không chỉ là tiền do ngân hàng trung ương phát hành mà nó đã bao gồm lượng tiền do các ngân hàng thương mại tạo ra. Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau.
Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng 1. Vai trò của Ngân hàng Thương mại Song song với 3 chức năng chính của ngân hàng thương mại, vai trò của ngân hàng thương mại được thể hiện thông qua các vai trò sau: - Cung cấp nhu cầu vay vốn cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, biến tiết kiệm thành đầu tư và tạo vốn cho nền kinh tế - Nâng cao hiệu quả của nền kinh tế thông qua rút ngắn tốc độ lưu thông tiền tệ - Tham gia kiểm soát các hoạt động kinh tế thông quá các công cụ của ngân hàng nhà nước - Cung cấp thông tin, tư vấn và dịch vụ đầu tư 1. Những dịch vụ cơ bản của Ngân hàng Thương mại 1. Các dịch vụ ngân hàng truyền thống a) Trao đổi, mua bán ngoại tệ 11 Hiện nay, ngân hàng thương mại là tổ chức chính thống được nhà nước chính thức công nhận được phép kinh doanh dịch vụ trao đổi và mua bán ngoại tệ.
Dựa vào tỷ giá mua, bán ngoại tệ theo thị trường, ngân hàng thương mại tiến hành thu mua ngoại tệ từ khách hàng hoặc bán ngoại tệ cho khách hàng có nhu cầu trao đổi ngoại tệ b) Cho vay thương mại Ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn huy động tiến hàng sử dụng cho các khách hàng có nhu cầu về vốn vay với mức lãi suất nhất định để giúp họ có vốn để mua hàng hoá dự trữ, xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất. c) Nhận tiền gửi Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng thông qua các hoạt động huy động vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng, một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao.