CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về công cụ phái sinh của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về công cụ phái sinh 1. Định nghĩa Có nhiều định nghĩa khác nhau về công cụ phái sinh, tuy nhiên có thể định nghĩa một cách tổng quát nhất như sau: Công cụ phái sinh (trong phạm vi đề tài nghiên cứu về công cụ phái sinh của NHTM, tác giả xin phép được trình bày trong luận văn công cụ phái sinh được hiểu chính là công cụ tài chính phái sinh) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận.
Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất… Hiểu đơn giản hơn công cụ phái sinh là hợp đồng tài chính được thực hiện giữa NH với khách hàng (hoặc giữa nhiều NH với một hoặc nhiều khách hàng). Trong đó, các điều khoản, giá trị của hợp đồng phái sinh được tham chiếu đến một công cụ tài chính (tài sản cơ bản) khác. Các tài sản cơ bản này bao gồm 4 dạng: tiền gửi, tiền tệ, chứng khoán và giấy tờ có giá, hàng hoá. Các công cụ phái sinh được ra đời nhằm phục vụ mục đích cơ bản là: phòng ngừa rủi ro và chấp nhận rủi ro (đầu cơ).
Việc kết nối hai nhu cầu này khiến giao dịch các công cụ phái sinh được thực hiện. Đặc điểm của công cụ phái sinh Giá trị phụ thuộc và thay đổi theo giá trị của tài sản cơ bản. Thông thường giá trị của hợp đồng phái sinh nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của tài sản cơ bản, khi tài sản cơ bản thay đổi giá trị thì hợp đồng phái sinh cũng thay đổi giá trị theo cho phù hợp. Không đòi hỏi đầu tư ban đầu hoặc đầu tư ban đầu nhỏ hơn các hợp đồng, giao dịch thông thường.
Khi một khách hàng đủ điều kiện để giao dịch các 4 sản phẩm tài chính cơ bản thông thường thì hoàn toàn đủ điều kiện giao dịch các sản phẩm phái sinh cho tài sản cơ bản đó. Trừ một số trường hợp kỳ hạn dài hoặc có nhiều điều khoản ưu đãi khiến khách hàng phải ký quỹ hoặc trả một mức phí ban đầu nhất định. Được đáo hạn trong tương lai. Hợp đồng tài chính phái sinh có thể được đáo hạn vào ngày đáo hạn của tài sản cơ bản hoặc có thể chấm dứt trước hạn khi diễn biến thị trường bất lợi cho hợp đồng tài chính phái sinh.
Phân loại các công cụ phái sinh Ngày nay, các công cụ phái sinh đơn giản trong quá khứ dần nhường chỗ cho các công cụ phái sinh phức tạp hơn, kết hợp nhiều yếu tố hơn và đem lại lợi ích lớn hơn. Nhưng nhìn chung có thể phân loại công cụ phái sinh theo 2 cách: a. Phân loại theo tính chất: Công cụ phái sinh gồm 4 loại: + Hợp đồng kỳ hạn + Hợp đồng tương lai + Hợp đồng hoán đổi + Hợp đồng quyền chọn Nội dung từng hợp đồng được trình bày cụ thể tại phần sau của luận văn. Phân loại theo tài sản cơ bản hình thành nên: Công cụ phái sinh cũng bao gồm 4 loại: + Tài sản cơ bản là tiền gửi: Giao dịch lãi suất kỳ hạn (FRA); Hoán đổi lãi suất (IRS - Interest Rate Swaps); Quyền chọn lãi suất (IRO - Interest Rate Options); Giao dịch lãi suất tương lai (IRF - Interest Rate Futures); Hợp đồng tiền gửi cơ cấu (SCD - Structure Currency Deposites).
+ Tài sản cơ bản là tiền tệ: Quyền chọn tiền tệ (Currency Options); Giao dịch mua bán kỳ hạn tiền tệ (Currency Forwards); Giao dịch mua bán tương lai tiền tệ (Currency Futures); Hoán đổi tiền tệ chéo (CCS - Cross Currency Swaps); Giao dịch kỳ hạn không chuyển tiền (NDF - Non Delivery Forwards); Giao dịch quyền chọn không chuyển tiền (NDO - Non Deliverable Options). + Tài sản cơ bản là chứng khoán, các giấy tờ có giá: Hợp đồng tương lai 5 và quyền chọn về các chỉ số (Index Options and Futures); Hợp đồng tương lai và quyền chọn về chứng khoán (Stock Options and Futures). + Tài sản cơ bản là hàng hoá: Hoán đổi hàng hoá (Commodity Swaps); Hợp đồng hàng hoá tương lai (Commodity Futures). Thị trường giao dịch công cụ phái sinh 1.
Quá trình hình thành và phát triển thị trường phái sinh Kinh doanh gắn liền với rủi ro, ứng với mỗi lĩnh vực có các rủi ro khác nhau: tiền tệ có rủi ro tỷ giá; tiền gửi có rủi ro lãi suất; chứng khoán, các giấy tờ có giá có rủi ro biến động giá chứng khoán, lãi suất chiết khấu, rủi ro thanh khoản; hàng hoá có rủi ro biến động giá cả thị trường, rủi ro tiêu thụ. Thị trường phái sinh ra đời xuất phát từ nhu cầu quản lý rủi ro, bao gồm: phân loại, chia tách rủi ro; kiểm soát rủi ro; chuyển đổi rủi ro từ chủ thể này sang sang chủ thể khác. Bên cạnh đó còn có một số nhu cầu khác như: nhu cầu về xác định trước chi phí, lợi nhuận để tính toán, quyết định phương án kinh doanh; nhu cầu về đầu tư, đầu cơ; nhu cầu về lợi nhuận của các bên liên quan. Chính vì vậy, việc ra đời thị trường phái sinh là tất yếu, nhằm đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Trong quá trình phát triển của mình, thị trường phái sinh đã trải qua các mốc lịch sử quan trọng sau: Đầu thế kỷ thứ 17, từ năm 1600 đến 1637, cơn sốt Hoa Tulip đã quét qua Hà Lan và Anh. Để giao dịch nhằm chống lại mức giá tăng cao do cơn sốt Hoa Tulip, các hợp đồng quyền chọn mua búp Hoa Tulip đã được ra đời tại Amsterdam - Hà Lan. Năm 1630, tại Anh các hợp đồng mua kỳ hạn búp Hoa Tulip được hình thành và giao dịch tại Trung tâm giao dịch Hoàng Gia (The Royal Exchange). Vì vậy, Trung tâm giao dịch Hoàng Gia (hình thành ở London - Anh từ năm 1571 với nhiệm vụ xúc tiến các hoạt động thương mại) cũng trở thành sàn giao dịch công cụ phái sinh sớm nhất.
Đến giữa thế kỷ thứ 17, vào năm 1650, hợp đồng tương lai đầu tiên ra đời tại Osaka - Nhật Bản. Đó là những hợp đồng tương lai hàng hoá về gạo, được giao dịch tại Chợ Yodoya - Osaka - Nhật Bản. Cùng với việc ra đời hợp đồng tương lai, phân tích kỹ thuật cũng được hình thành lần đầu tiên ở đây. Với nỗ lực 6 nhằm dự đoán giá gạo, một nhà buôn tài ba Munehisha đã khai sinh ra đồ thị hình nến nhằm ghi lại biến động của giá gạo trong ngày, thống kê của các ngày sẽ hình thành nên một đường biểu diễn giá gạo phục vụ cho việc theo dõi và dự đoán giá gạo.
Giá đóng cửa Giá mở cửa Giá mở cửa Giá đóng cửa Đồ thị 1.1: Đồ thị hình nến trong phân tích kỹ thuật hợp đồng tương lai (Nguồn: Reuters, Derivative Workbook) Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa thì thân nến có màu sẫm (đen hoặc đỏ) Nếu giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa thì thân nến có màu sáng (trắng) Đến giữa và cuối thế kỷ thứ 18, các hợp đồng phái sinh bắt đầu được kinh doanh tại thị trường London - Anh với sự ra đời của Baltic Exchange vào năm 1744 và London Stock Exchange vào năm 1773. Cùng lúc đó ở Mỹ, sau khi Philadelphia Stock Exchange ra đời vào năm 1790, quyền lựa chọn cổ phiếu được kinh doanh rộng rãi và phổ biến hơn. Bước sang thế kỷ thứ 19, lịch sử phát triển thị trường phái sinh được ghi dấu với sự kiện quan trọng nhất là sự ra đời của Sở Thương mại Chicago tại Mỹ (Chicago Board Of Trade - CBOT) vào năm 1848. CBOT ra đời thành công đã thúc đẩy khối lượng giao dịch các công cụ phái sinh tăng vọt, làm cơ sở ra đời cho các trung tâm giao dịch tài chính phái sinh tiếp theo tại Mỹ cũng như tại các nước khác.
Đến cuối thế kỷ thứ 19, tại Mỹ hàng loạt các sở giao dịch ra đời như: Sở giao dịch Chứng khoán Newyork (Newyork Stock Exchange) năm 1863; Sở giao dịch Bông Newyork (Newyork Cotton Exchange) năm 1870; Sở Thương nghiệp Newyork (Newyork Mercantile Exchange) năm 1872; Sở Thương nghiệp Chicago (Chicago Mercantile Exchange) năm 1874. Hầu như mọi loại hợp đồng và mọi loại hàng hoá đều được kinh doanh tại đây. Tại các nước khác như Anh, 7 Nhật cũng ảnh hưởng bởi sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính phái sinh Mỹ, dẫn tới sự ra đời của Sàn giao dịch Kim loại London (London Metal Exchange) năm 1877 và Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange) năm 1878. Năm 1971 khi hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ vì Mỹ không đủ khả năng giữ giá trị của đồng USD so với vàng, hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi đã được áp dụng trên toàn thế giới.
Khi đó các nhà xuất, nhập khẩu phải đối mặt với rủi ro mới là rủi ro tỷ giá. Đáp ứng nhu cầu thị trường, năm 1972, Sở Thương nghiệp Chicago (Chicago Mercantile Exchange) đã đưa ra hợp đồng tương lai tiền tệ đầu tiên giúp các nhà xuất, nhập khẩu có thể giao dịch tại thời điểm hiện tại mà cố định tỷ giá trong tương lai, nhằm loại trừ rủi ro tỷ giá. Và đó chính là cơ sở cho các công cụ phái sinh tài chính dựa trên tài sản cơ bản là tiền tệ chứ không phải hàng hoá thông thường. Năm 1973, Sàn giao dịch Quyền chọn Chicago (Chicago Board Options Exchange) được thành lập đồng thời với việc ra đời của mô hình tính giá quyền chọn Black Scholes của hai nhà bác học Mỹ: Fischer Black và Myron Scholes.
Với cơ sở khoa học này, thị trường tài chính phái sinh đã trở nên hoàn thiện hơn và được mở rộng khắp trên toàn thế giới. Tại Sydney, Sàn giao dịch Tương lai Sydney (Sydney Futures Exchange) được thành lập năm 1960; Tại Hongkong, Sàn giao dịch Tương lai Hongkong (Hongkong Futures Exchange) được thành lập năm 1976. Năm 1982, đánh dấu sự ra đời của Trung tâm giao dịch Tương lai và Quyền chọn quốc tế (London International Financial Futures and Options Exchange - LIFFE) tại London - Anh. Đây là trung tâm giao dịch lớn nhất của Châu Âu với các công cụ kỳ hạn, tương lai và quyền chọn vô cùng đa dạng.
Năm 2002, Euronext đã mua LIFFE và trở thành Euronext.liffe - một trong những hệ thống trung tâm giao dịch tài chính phái sinh quốc tế tại: Paris, London, Brussels, Lisbon, Amsterdam.