Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Quốc tế VIB – Chi nhánh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2015-2017. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Quốc tế VIB – Chi nhánh Thừa Thiên Huế. 4 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát cho vay tiêu dùng 1. Sự ra đời và phát triển của cho vay tiêu dùng Vào những năm 1980, hệ thống ngân hàng thƣơng mại của Mỹ phải tiến hành cải cách với lý do dƣới sức ép của cạnh tranh, việc thực hiện nghiệp vụ của các ngân hàng thƣơng mại gặp nhiều bất lợi. Trong thực tế, sức mạnh cạnh tranh đã tạo ra những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ, dân số học, luật pháp và chính nó cũng g p phần vào sự thay đổi về dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, đồng thời cũng làm giảm vai trò của các ngân hàng thƣơng mại trong hệ thống tài chính dẫn đến sự thay đổi cơ cấu trong các ngân hàng.
Môi trƣờng cạnh tranh thay đổi một cách nhanh chóng, cùng với nó là việc các ngân hàng không còn duy trì đƣợc khả cạnh tranh nhƣ trƣớc. Hiện tƣợng này mang nét đặc trƣng của cuộc khủng hoảng trong những năm 1930 nhƣng n xoá dần khả năng đứng vững của các ngân hàng dẫn đến một hệ thống ngân hàng yếu kém, hoạt động không hiệu quả. Cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng bắt đầu vào những năm 1970 khi các nhà môi giới lập ra “thị trƣờng tiền tệ bán lẻ” dẫn đến cuộc cạnh tranh giữa các công ty tài chính tiêu dùng, các công ty thƣơng mại với các ngân hàng. Do đ , đến đầu những năm 1980, trƣớc đòi hỏi của các ngân hàng về một “lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã cho phép các ngân hàng cung ứng nhiều sản phẩm và dịch vụ mới.
Những thay đổi đ đòi hỏi các ngân hàng phải đổi mới công nghệ để thích ứng và để nâng cao khả năng cạnh tranh. Đầu tiên, đ là việc các ngân hàng s dụng hệ thống máy vi tính nhằm giảm thời gian và chi phí quản lý. Kế đến là sự xuất hiện của máy rút tiền tự động (Automated Teller Machine- ATM) đƣợc đặt ở các trung tâm buôn bán, phi trƣờng, các trung tâm vận tải nhằm tạo thuận lợi cho ngƣời s dụng dịch vụ ngân hàng và giảm chi phí xây cất cho ngân hàng. 5 Cùng với thời gian, hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng đã thay đổi.
Nếu nhƣ trƣớc đây các ngân hàng chỉ giới hạn phạm vi hoạt động trong cho vay thƣơng mại thì ngày nay họ đã mở rộng thêm hoạt động cho vay tiêu dùng đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng vào những năm 1930. Cải cách lớn nhất trong lĩnh vực tài chính trong thời gian này là việc các qui định về kiểm soát tiền tệ và các qui định khác đối với các tổ chức tài chính làm nhiệm vụ ký thác đã đƣợc ban hành thành luật. Sắc luật này cho phép các ngân hàng tiết kiệm công cộng liên bang đƣợc kinh doanh, hợp tác và có các quan hệ cho vay với các doanh nghiệp nhận tiền ký thác, đƣợc tiến hành cho vay tiêu dùng và cung ứng các dịch vụ khác. Nhƣ vậy hệ thống ngân hàng Mỹ đã có sự cải tổ để nâng cao tính cạnh tranh không chỉ với các tổ chức tài chính trong nƣớc mà với cả các tổ chức nƣớc ngoài.
Từ đ cho vay tiêu dùng đã ra đời và chính thức đƣợc công nhận nhƣ một nghiệp vụ của ngân hàng. Đến năm 1987, sau khoảng 7 năm ban hành luật này, các ngân hàng Mỹ đã cung cấp 80% khối lƣợng tín dụng tiêu dùng, trong đ 45% dựa trên cơ sở cho vay trả g p. Ngày nay cho vay tiêu dùng đã phát triển mạnh theo xu thế chung của nền kinh tế thế giới. Khái niệm cho vay tiêu dùng Có nhiều quan điểm khác nhau về cho vay tiêu dùng, c ngƣời cho rằng: “Cho vay tiêu dùng của ngân hàng nhằm tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình và cá nhân” [11, tr.66], có ý kiến khác lại cho rằng: “Tín dụng tiêu dùng là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ: mua sắm nhà c a, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc nhƣ tủ lạnh, điều hòa, máy giặt…”, [7, tr.120] hay cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cƣ.
Khách hàng vay là những ngƣời có thu nhập không cao nhƣng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hƣởng lƣơng c việc làm ổn định và số lƣợng khách hàng thì rất đông. Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tiêu dùng rất hữu ích nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm, s a chữa nhà c a… của các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này giúp ngƣời tiêu dùng có thể s dụng hàng hoá, dịch vụ trƣớc khi họ 6 có khả năng chi trả, tạo cho họ c đƣợc một cuộc sống với chất lƣợng cao hơn nhƣ mua xe, mua nhà, nghỉ ngơi, du lịch… Dù có nhiều cách hiểu khác nhau, nhƣng tất cả các quan niệm trên đều có một điểm chung: Cho vay tiêu dùng là hoạt động cho vay của NHTM để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân. Từ đ c thể hiểu rằng: “Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng trong đ ngân hàng thoả thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình s dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng 1. Đặc điểm về đối tượng cho vay tiêu dùng Đối tƣợng cho vay tiêu dùng theo mức thu nhập + Những ngƣời có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của nh m ngƣời này thƣờng rất hạn chế do nguồn thu nhập không đủ để thoả mãn những nhu cầu đa dạng của họ. Tuy nhiên, họ cũng c những mong muốn chi tiêu không khác mấy so với những ngƣời có thu nhập cao hơn. Do đ , nếu có biện pháp phù hợp cũng c thể hình thành đƣợc các khoản vay hợp lý đến các nh m đối tƣợng này.
+ Những cá nhân có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm này có xu hƣớng tăng trƣởng ngày càng mạnh bởi khoản tích luỹ của nhóm này tuy ít song thu nhập trong tƣơng lai của họ có phần ổn định có thể chi trả cho những nhu cầu tiêu dùng hiện tại. + Những cá nhân có thu nhập cao: Những ngƣời này thƣờng cần tới những khoản vay với tƣ cách là những khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm cho khả năng thanh toán đặc biệt khi tiền của họ đã bị trói chặt vào những khoản đầu tƣ dài hạn. Mặc dù việc vay mƣợn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhƣng lại là những món tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng tỏ ra đặc biệt quan tâm đến nhóm khách hàng này. Đối tƣợng cho vay tiêu dùng theo tình trạng việc làm: Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân còn phụ thuộc vào tính chất công việc, nghề nghiệp hoặc nơi công tác.
Xét theo khía cạnh này, chúng ta có các nhóm khách hàng sau: 7 + Những ngƣời làm công ăn lƣơng. + Những ngƣời có công việc kinh doanh riêng. + Những ngƣời hành nghề chuyên nghiệp (Bác sĩ, ca sĩ, tƣ vấn…). + Những ngƣời lao động tự do.
Trên thực tế, những ngƣời thuộc 3 nh m đầu có thu nhập cao và ổn định hơn so với những ngƣời thuộc nhóm cuối nên nhu cầu vay tiêu dùng cũng chủ yếu phát sinh từ 3 nhóm trên. Đặc điểm về quy mô Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn Các khách hàng khi tìm đến ngân hàng nhằm mục đích vay tiêu dùng thƣờng có nhu cầu vốn không lớn lắm. Đ là vì: Khi xác định mua sắm bất cứ vật dụng gì ngƣời tiêu dùng phải có một khoản tích luỹ từ trƣớc (vì không khi nào các ngân hàng cho vay đến 100% nhu cầu vốn) và các vật dụng trong gia đình thƣờng không quá đắt đỏ, kể cả khi ngƣời tiêu dùng vay để mua nhà, xây nhà hoặc s a chữa nhà ở thì quy mô các khoản đ cũng không quá lớn đối với một ngân hàng. Nhƣng số lƣợng các khoản vay tiêu dùng lại lớn do đối tƣợng của cho vay tiêu dùng là mọi tầng lớp dân cƣ trong xã hội.
Đặc điểm về lãi suất Các khoản vay tiêu dùng có lãi suất “cứng nhắc” Không nhƣ hầu hết các khoản vay kinh doanh hiện nay, lãi suất có thể thay đổi theo điều kiện thị trƣờng, các khoản vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất ở một mức cố định, đặc biệt là trong cho vay tiêu dùng trả góp. Ngay cả khi quan hệ tín dụng đƣợc xác lập thì mức lãi suất đã đƣợc đƣa ra và duy trì trong suốt thời hạn vay (kể cả c thay đổi lãi suất thì việc thay đổi đ cũng đƣợc quy định ngay trong hợp đồng tín dụng khi ký kết). Đặc điểm về rủi ro Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao Vì đối tƣợng của hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình nên bên cạnh các yếu tố khách quan từ bên ngoài còn có các yếu tố chủ quan từ chính 8 ngƣời tiêu dùng. Các yếu tố khách quan nhƣ thiên tai, bệnh tật, mất mùa, thất nghiệp và chu kỳ kinh tế.
Thời kỳ nền kinh tế mở rộng và mọi ngƣời dân đều lạc quan tin tƣởng vào tƣơng lai thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên nhƣng khi nền kinh tế suy thoái, các cá nhân, hộ gia đình thƣờng c tƣ tƣởng dự phòng cho tƣơng lai, họ sẽ hạn chế tiêu dùng và tăng cƣờng tích luỹ. Đây là thời kỳ kh khăn cho các nhà sản xuất và các ngân hàng trong việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn chịu ảnh hƣởng bởi các yếu tố chủ quan từ phía ngƣời tiêu dùng khi họ muốn vay mƣợn để chi tiêu nhƣng không muốn trả.