Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng tmcp quân đội chi nhánh hoàn kiếm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tài chính ngân hàng phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng tmcp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về phát triển cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương này tập trung vào việc xác định các khái niệm cơ bản liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và vai trò của chúng trong nền kinh tế. Doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa là những doanh nghiệp có quy mô vốn và doanh thu nhỏ, thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Theo thống kê, SME đóng góp khoảng 40% vào GDP và tạo ra hàng triệu việc làm. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm quy mô hoạt động hạn chế, khả năng tiếp cận vốn thấp và thường gặp khó khăn trong việc mở rộng sản xuất. Vai trò của SME trong nền kinh tế không chỉ nằm ở việc tạo ra việc làm mà còn trong việc thúc đẩy sự cạnh tranh và đổi mới sáng tạo. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có sự hỗ trợ từ các ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay. Việc phát triển hoạt động cho vay đối với SME không chỉ giúp ngân hàng mở rộng thị trường mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung.

1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) được hiểu là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn và số lượng lao động. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, SME được phân loại thành ba nhóm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm quy mô vốn hạn chế, khả năng tiếp cận thị trường và nguồn lực tài chính thấp. Những doanh nghiệp này thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn ngân hàng do thiếu tài sản đảm bảo và thông tin minh bạch. Hơn nữa, SME đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển bền vững. Do đó, việc phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết để hỗ trợ họ vượt qua những khó khăn này.

II. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh Hoàn Kiếm

Chương này phân tích thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Hoàn Kiếm. Trong giai đoạn từ 2016 đến 2018, ngân hàng đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng quy mô cho vay đối với SME. Tỷ trọng dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng dư nợ của ngân hàng đã tăng lên, cho thấy sự quan tâm của ngân hàng đối với phân khúc này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như quy mô cho vay còn nhỏ, chất lượng các khoản vay chưa cao và tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức đáng lo ngại. Ngân hàng cần cải thiện quy trình thẩm định và quản lý rủi ro để nâng cao hiệu quả cho vay. Việc phát triển sản phẩm cho vay đa dạng và phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng.

2.1 Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Hoàn Kiếm trong những năm gần đây cho thấy sự tăng trưởng ổn định. Tính đến cuối năm 2018, dư nợ cho vay SME đã đạt mức 1,030 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2017. Tỷ trọng dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng dư nợ của ngân hàng cũng đã có sự cải thiện, cho thấy ngân hàng đang dần chú trọng hơn đến phân khúc này. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu trong cho vay SME vẫn còn cao, điều này đặt ra thách thức lớn cho ngân hàng trong việc quản lý rủi ro. Ngân hàng cần có các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu nợ xấu và nâng cao chất lượng cho vay.

III. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh Hoàn Kiếm

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Hoàn Kiếm. Đầu tiên, ngân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định và quản lý rủi ro để đảm bảo chất lượng các khoản vay. Thứ hai, việc đa dạng hóa sản phẩm cho vay và cải thiện quy trình cho vay sẽ giúp ngân hàng thu hút nhiều khách hàng hơn. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần tăng cường công tác chăm sóc khách hàng và xây dựng mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cuối cùng, việc hợp tác với các tổ chức tài chính khác và chính phủ để hỗ trợ SME trong việc tiếp cận vốn cũng là một giải pháp quan trọng. Những giải pháp này không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3.1 Nâng cao năng lực thẩm định và quản lý rủi ro

Để phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định và quản lý rủi ro. Việc này bao gồm việc đào tạo nhân viên ngân hàng về các phương pháp thẩm định hiện đại, giúp họ có khả năng đánh giá chính xác hơn về khả năng trả nợ của khách hàng. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần xây dựng hệ thống thông tin khách hàng hiệu quả để theo dõi và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quy trình thẩm định sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao độ chính xác trong việc ra quyết định cho vay. Điều này không chỉ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận vốn.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀN: THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khải niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thể giới Mặc dù thị trường SME có quy mô và tầm quan trọng đáng kể, định nghĩa về thị trường này vẫn còn khác nhau rất nhiều trên toàn thế giới. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (World Bank), thì SME là những doanh nghiệp có vốn, số lao động và doanh thu nhỏ, căn cứ vào đó có thể chia SME thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.1: Tiêu chí phân loại SME của World Bank: Quy uy mômô côncả Nhân viên | „ ai sin (usp) | Domb thu Ring năm (usb) ie Doanh nghiệp siêu >10 > 10,000 > 10,000 nho Doanh nghiệp nhỏ | 10-50 | 10,000-3,000,000 10,000 -3,000,000 3,000,000 - Doanh nghiệp vừa |_ 50-300 3,000,000 15,000,000 15,000,000 Nguén: Téng hop tir World Bank Các SME được định nghĩa khác nhau tùy theo từng quốc gia nhưng về cơ ban SME có ít lực lượng lao động hoặc tài sản. Các tiêu chí để định nghĩa phân khúc thị trường này là số lượng lao động, doanh thu hàng năm, tai sản và quy mô.

vay hoặc đầu tư. Dưới đây là cách thức phân loại SME ở một số nước như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại SME ở một số nước trên thế giới Quốc gia Nhân viên Doanh thu hàng năm Châu Âu |Ïthơn250 Ít hơn €50 triệu it hon §7 triệu đổi với đa số các. |Ít hơn 500 cho phần lớn hoạt | ngành không liên quan tới sản x "¬ động sản xuất và khai thác nhưng dao động tới mức tối đa là $35,5 triệu Canada 10 t61250 Ít hơn 50 triệu dollar Canada Ít hơn 500 trong hoạt động sản Mexico — | xuat, it hon 50 trong hoạt động dịch vụ Nam phi | 120 tới T00-200, tùy thuộc |200-300000 ZAR tới 4-50 trệu vào từng ngành ZAR, tùy thuộc vào từng ngành Ít hơn 200 trong các ngành sử Thái Lan | th nhiều lao động và ít hơn Ít hơn 200 triệu Bạt 100 trong các ngành sử dụng nhiều vốn Thổ Nhĩ Kỳ | 10 tới250 Nguôn đữ liệu: International Finanee Corporation (2009) Mặc dù có nhiều tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thế giới và ở các quốc gia trên thế giới, song nhìn chung doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chí để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ có khác nhau.

Tuy nhiên, khi xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí số lượng lao động thường xuyên, số lượng vốn góp, doanh thu hàng năm và đặc điểm ngành nghề kinh doanh.2 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Tại Việt Nam, mới nhất hiện nay thì chưa thấy điều luật nào định nghĩa về SME rõ ràng và cụ thê. Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày I1 tháng 3 năm 2018 của Chính phủ v/v quy định chỉ tiết một số điều của Luậ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nêu ra các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy mô tổng nguồn vốn (tông nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp), tổng doanh thu hoặc số lao động bình quân năm (tông nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Băng 1.3: Tiêu chí phân loại SME theo nghị định 39/2018/NĐ-CP. Quymê Doanh "¬ Si" | Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tông Tong Tong nguồn Số - lao | nguồn Sé lao | nguồn Số lao Khuvực |vốn/Tổng |lđộng vốn/Tổng | động vốn/Tổng | động doanh thu. L Nông, 20 tỷ đồng 100 — tỷ lâm trở đồng trở nghiệp và "¬ xuống/50 xuống/200.sản | Ởor đồng ty ° dong đã đồn ty déng tro trõ I.

Công — | trở xuống trở> xuống xuổ xuống áng (trừ(mờ nghiệp 8 và 10 nguai„.|(rừ |S siêu |Từ trên |siêu nhỏ|Từ trên xây dựng Mã nhỏ), ời Í v à nhỏ 10 người | và nhỏ) _ |100 người` lxuốn 50 tỷ đồng |đến 100/100 ty|đến 200 m 3 ty ding "S| tra người | ding trở | người Thuong mai và |, [Xuống/10 xuong/100 tỷ đồng xuong/300 tỷ đồng trở tỷ đồng trở xuống xuống (trừ dịch vụ ¬ - trở xuống (trừ. siêu nhỏ : nhỏ), và nhỏ) Nguôn: Chính Phú (2018), Nghị định số 39/2018/NĐ-CP.3 Quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ của MB Theo quy định hiện hành, MB định nghĩa doanh nghiệp SME là doanh nghiệp có doanh thu dưới 1000 tỷ đồng hoặc tổng tài sản/tông nguồn vốn dưới 500 tỷ đồng. Trong đó, phân thành các nhóm: SME siêu nhỏ: là doanh nghiệp có doanh thu dưới 20 tỷ đồng. SME_nhé: là doanh nghiệp có doanh thu từ 20 tỷ đồng đến dưới 200 tỷ đồng.§ME vừa: là doanh nghiệp có doanh thu từ 200 tỷ đồng đến dưới 800 tỷ đồng.

SME privafe: là doanh nghiệp có doanh thu từ 800 tỷ đồng đến dưới 1000 tỷ đồng. Tóm lại, SME là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, có quy mô doanh nghiệp giới hạn theo các tiêu thức như số lao động, vốn, tài sản hoặc doanh thu hàng năm.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỗ Các SME hoạt động khác với các doanh nghiệp có quy mô lớn, SME ít phức tạp hơn về mặt tài chính, thiếu mảng hoạch định kinh doanh và chuyên môn quản lý luồng tiền mặt. SME có mặt ở gần như mọi điểm trong chuỗi giá trị dưới hình thức nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối, bán lẻ và cung cấp dịch vụ. Họ thường.

có mối quan hệ cộng sinh với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Thị trường SME có rất nhiều doanh nghiệp với nhiều hình thức hoạt động và quy mô khác nhau. SME thường là các công ty gia đình, và trong đa số các trường hợp, chủ sở hữu thường là người ra quyết định chính về tài chính. Tại Việt Nam, SME được coi là xương sống của nền kinh tế, chiếm tỉ lệ 96% tông số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp khoảng 40% vào GDP của nền kinh tế.

SME có các đặc điểm sau 1.1 Nguôn vốn hạn chế SME thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân Hiện nay chỉ có 23% số doanh nghiệp SME tại Việt Nam tiếp cận được với các nguồn tín dụng chính thức, trong khi gần 50% số doanh nghiệp dựa vào tín dụng thương mại. Số còn lại tìm kiếm vốn từ nguồn phi chính thức (có thể là tín dụng, đen, hoặc vay mượn từ bạn bè, gia đình) Quy mô vốn nhỏ mang lại một số lợi thế cho SME như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh. Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các SME phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lắp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn đề lại. Tuy nhiên đặc điểm này cũng làm cho các SME gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.

Do quy mô vốn nhỏ nên SME bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Các SME thường không đạt được lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn. ột thực tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là đối tác của nhau, họ dựa vào tín dụng thương mại của doanh nghiệp nhỏ khác, cũng gặp những hạn chế về vốn thì khả năng cấp tín dụng thương mại cũng hạn chế. Do đó, phần nào các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế vòng luẫn quân về vốn.

Hơn nữa, trong số những doanh nghiệp vay được vốn từ các ngân hang thi chỉ có 1⁄3 số doanh nghiệp được duyệt vay với mức vốn từ 50% nhu cầu trở lên, 1/5 số doanh nghiệp chỉ được duyệt vay ở mức 25% so với nhu cầu vốn. Những con số này cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vốn lớn nhưng mức độ tiếp cận tín dụng ngân hàng là rất thấp so với nhu cầu về vốn.2 Năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp còn hạn chế Điều kiện thành lập SME là rất đơn giản, không đòi hỏi quá cao nên nhìn chung trình độ kĩ năng quản lý của chủ doanh nghiệp còn hạn chế. Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đảo tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp, các lớp về pháp luật trong kinh doanh. Khả năng quản lý doanh nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân, vào cách nhìn chủ quan của các chủ doanh nghiệp, họ chưa thực sự hiểu đầy đủ về việc quản lý doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý, phỏng tránh các rủi ro pháp lý của các doanh nghiệp.3 Trình độ lao động thấp Về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các SME chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Việc thực hiện chưa đẩy đủ các chính sách bảo. hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng lao động trong khu vực SME, do vậy các doanh nghiệp này càng rơi vào vị thế bắt lợi. Bên cạnh đó các SME thường không đủ khả năng canh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thu hút lao động có tay nghề do hạn chế về năng lực tài chính.

Người lao động ít được đào tạo, chủ doanh nghiệp SME cũng không tiến hành đảo tạo lại do kinh phí hạn hẹp dẫn đến trình độ và kỹ năng lao động thấp. Ngoài ra SME còn bị ảnh hưởng bởi định kiến đây là các doanh nghiệp gia đình, môi trường. làm việc không ồn định, cơ hội phát triên thấp dẫn đến nhiều lao động có tay nghề không muốn làm việc trong khu vực này.4 Khả năng ứng dụng và đổi mới công nghệ thấp Xuất phát từ đặc điểm nguồn vốn hạn chế nên các SME không đủ năng lực tài chính để đầu tư triển khai nghiên cứu công nghệ tiên tiền. Nhiều SME cho dù có sáng kiến công nghệ nhưng không đủ năng lực triển khai nên không thể hình thành nên công nghệ mới hoặc phải bán ý tưởng có các doanh nghiệp lớn với giá rẻ Trinh độ khoa học công nghệ ở Việt Nam nhìn chung là rất thấp, thường yếu kém, lạc hậu, chậm đổi mới và các SME ở Việt Nam không nằm ngoài thực trạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát triển cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Quân Đội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chiến lược và phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể để cải thiện quy trình cho vay, giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc phát triển cho vay không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế địa phương.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến huy động vốn và cho vay, hãy tham khảo bài viết Luận văn nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi, nơi bạn sẽ khám phá các phương pháp tối ưu hóa nguồn vốn. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị tín dụng ngân hàng đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh bắc ninh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh sơn tây để hiểu rõ hơn về thực tiễn cho vay doanh nghiệp tại một ngân hàng cụ thể. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực cho vay doanh nghiệp.