CHƯƠNG 1: SƠ BỘ VỀ LOGFILE MẠNG IPTV 1. GIỚI THIỆU VỀ MẠNG IPTV 1. IPTV là gì Cuối thập kỷ trước, cùng sự phát triển của các dịch vụ truyền hình vệ tinh, sự tăng trưởng của dịch vụ truyền hình cáp số, và đặc biệt là sự ra đời của HDTV (High Definition Television) đã để lại dấu ấn đối với lĩnh vực truyền hình. Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới đã xuất hiện một phương thức cung cấp dịch vụ mới mạnh hơn, đó là IPTV (Internet Protocol Television).
IPTV ra đời dựa trên sự hậu thuẫn của ngành viễn thông, đặc biệt là mạng băng rộng; IPTV dễ dàng cung cấp nhiều hoạt động tương tác hơn, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ truyền hình. Sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet băng rộng làm thay đổi cả về nội dung và kĩ thuật truyền hình. IPTV là một hệ thống cung cấp các dịch vụ truyền hình số tới các thuê bao sử dụng giao thức IP trên kết nối băng rộng. IPTV thường được cung cấp cùng với dịch vụ VoD và cũng có thể cung cấp cùng với các dịch vụ Internet khác như truy cập Web và VoIP, do đó còn được gọi là “Triple Play” và được cung cấp bởi nhà khai thác dịch vụ băng rộng sử dụng chung một hạ tầng mạng.
Hiện nay IPTV đang là cấp độ cao nhất và là công nghệ truyền hình của tương lai. Sự vượt trội trong kĩ thuật truyền hình của IPTV là tính năng tương tác giữa hệ thống với người xem, cho phép người xem chủ động về thời gian và khả năng triển khai nhiều dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích khác trên hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Đây cũng là xu hướng hội tụ của mạng viễn thông thế giới. Trên thế giới đã có một số quốc gia triển khai thành công IPTV.
Tại Việt Nam một số nhà cung cấp IPTV như VNPT, FPT, VTC,… Hệ thống IPTV truyền tải các kênh truyền hình quảng bá và nội dung video, audio theo yêu cầu chất lượng cao qua một mạng băng thông rộng. Theo tổ chức Liên Hiệp Viễn Thông Quốc Tế ITU thì: IPTV là dịch vụ đa phương tiện bao gồm truyền hình, video, audio, văn bản, đồ họa và dữ liệu truyền trên một mạng IP và được quản lý để đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ (Quality of Serice – QoS), sự trải nghiệm (Quality of Experience – QoE), tính bảo mật, tính tương tác và độ tin cậy [13]. Kiến trúc tổng quan mạng IPTV Hệ thống IPTV bao gồm 04 thành phần quan trọng, đó là: nội dung (Content), nền tảng (Platform), hệ thống mạng (Network), và thiết bị đầu cuối (Terminal). Trong mô hình kinh doanh, 04 thành phần trên tương ứng với 04 vai trò sau: nhà cung cấp nội dung (Content Provider), nhà cung cấp dịch vụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kiến trúc tổng quan mạng IPTV như sau [14]: Hình 1.1: Mô hình tổng quan hệ thống IPTV Thành phần nội dung (Content) [14]: bao gồm âm thanh, hình ảnh, dữ liệu, dữ liệu văn bản, và các ứng dụng. Những nội dung này được phân phối thông qua các kênh khác nhau như vệ tinh, truyền hình mặt đất, cơ sở dữ liệu của nhà cung cấp nội dung, v.v… Thành phần nền tảng (Platform) [14]: bao gồm việc nhận dữ liệu nội dung, xử lý, truyền tải, bảo mật và quản lý tùy theo quy định của nhà cung cấp dịch vụ. Thành phần này bao gồm các hệ thống chính sau: - Hệ thống nhận nội dung: nhận các tín hiệu nguồn từ nhà cung cấp nội dung, nhà cung cấp chương trình, thông qua truyền hình mặt đất, vệ tinh, cáp, mạng IP, v.v… Đồng thời, hệ thống này kiểm soát việc phân phối tín hiệu thông qua các bộ chuyển mạch và giám sát việc phát nội dung thông qua phòng điểu khiển chính. - Hệ thống xử lý và truyền tải: hệ thống này thực hiện việc nén các tín hiệu nhận được theo một định dạng nhất định (ví dụ: H.264, MPEG2, VC1), sau đó đóng gói thành theo định dạng IP và chuyển sang hệ thống mạng.
- Hệ thống xử lý giá trị gia tăng: sử dụng các middleware và các nền tảng ứng dụng để cung cấp các dịch vụ dữ liệu bổ sung như thông tin, thương mại, truyền thông, giải trí, giáo dục. - Hệ thống bảo mật: bao gồm các hệ thống quản lý bản quyền số, các hệ thống mã hóa và giải mã nội dung, hệ thống kiểm soát truy nhập nhằm ngăn chặn việc khai thác nội dung bất hợp pháp. Trong đó, hệ thống quản lý bản quyền số (DRM) giúp nhà khai thác bảo vệ nội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 dung của mình, như trộn các tín hiệu truyền hình hay mã hóa nội dung VoD, khi truyền đi trên mạng Internet và tích hợp với tính năng an ninh tại STB ở phía thuê bao. Hệ thống DRM dựa trên các khái niệm của hệ thống cơ sở hạ tầng khoá công khai (Public Key Infrastructure – PKI.
Ngoài ra, hệ thống bảo mật cũng bao gồm các thiết bị chuyên dụng khác như: tường lửa (firewall), thiết bị phát hiện và ngăn chặn xâm nhập (ips), thiết bị quản lý log tập trung, v.v… - Hệ thống quản lý: thực hiện phối hợp và kiểm soát các hoạt động nội bộ giữa các hệ thống phụ và trong toàn bộ hệ thống. Ngoài ra, hệ thống này còn quản lý và lên lịch cho cách chương trình, nội dung và các thiết bị, đồng thời quản lý các thông tin về trạng thái thuê bao và tính cước. Thành phần hệ thống mạng (Network) [14]: thành phần này bao gồm hạ tầng mạng IP băng rộng để truyền dịch vụ từ nhà cung cấp dịch vụ IPTV đến khách hàng. Mạng truy nhập sẽ tận dụng phần hạ tầng mạng xDSL có sẵn.
Để cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt và tiêu thụ ít băng thông khi có đồng thời nhiều truy nhập đến hệ thống, mạng truy nhập băng rộng cần phải được hỗ trợ multicast. Thành phần đầu cuối (Terminal) [14]: thành phần này nằm ở phía khách hàng, bao gồm các thiết bị cho phép thu nhận, giải mã và hiển thị nội dung trên tivi như Set-Top-Box (STB). STB cần hỗ trợ các chuẩn MPEG-4/H. Ngoài ra, STB cũng có thể hỗ trợ HDTV, có khả năng kết nối với các thiết bị lưu trữ bên ngoài, video phone, truy nhập web, v.
Các dịch vụ của mạng IPTV Cung cấp các dịch vụ quảng bá: Quảng bá ti vi (Broadcast TV); kênh âm thanh (Audio Channel); truyền hình trực tuyến (Time-Shift TV); VOD băng hẹp [8]. Cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu: Video theo yêu cầu (Video on Demand - VoD); âm nhạc theo yêu cầu (Music on Demand - MoD); TV theo yêu cầu (TV on Demand - TVoD) [8]. Cung cấp các dịch vụ tương tác: thông tin tương tác (Interactive Information); truyền hình tương tác (Interactive TV); công ích, từ thiện,. DỮ LIỆU LOGFILE MẠNG IPTV Trong một hệ thống mạng lớn như IPTV, các nhà cung cấp dịch vụ thường thu thập một lượng lớn dữ liệu như log thiết bị, log hệ thống, các thông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tin cảnh báo, thông điệp điều khiển được tạo ra trên mạng lưới bởi các ứng dụng hoặc thiết bị.
Những dữ liệu này thường đa dạng và phức tạp bởi có rất nhiều thiết bị khác nhau tham gia vào hệ thống. Các máy chủ với các hệ điều hành khác nhau cũng tạo ra một lượng lớn dữ liệu log. Ngoài ra còn có log của những ứng dụng hoạt động trên hệ thống. Trong mạng IPTV, thường gặp một số loại logfile hệ thống sau: - Firewall logs: là các bản ghi log ghi lại trạng thái hoạt động của Firewall, các kết nối vào ra hệ thống, các hành động mà Firewall đã thực thi đối với từng kết nối (cho phép hoặc chặn), thông tin về nguồn kết nối, đích kết nối, v.v… - Router syslogs [11]: đó là các log được tạo ra bởi các router trong đó mô tả một loạt các sự kiện được router ghi lại.
- STB logs [11]: là các bản ghi mô tả lại những hoạt động của người dùng cuối, chẳng hạn tắt, bật STB, yêu cầu nội dung, v. - Các log ứng dụng, đặc biệt là log ứng dụng web, cho phép khai thác các dữ liệu được thu thập khi người dùng truy cập máy chủ web nhằm thực hiện một số tác vụ như xem và yêu cầu dịch vụ truyền hình, đăng ký và sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng,v.v… Các log ứng dụng khác có thể được sử dụng cho những yêu cầu phân tích cụ thể. Logfile Firewall Trong hệ thống IPTV, vấn đề đảm bảo an toàn an ninh trong quá trình cung cấp dịch vụ luôn được quan tâm. Đây cũng là một trong những yêu cầu hàng đầu trong quá trình thiết kế, xây dựng của hệ thống IPTV nói riêng và các hệ thống CNTT nói chung.
Hiện nay có rất nhiều giải pháp an toàn thông tin được áp dụng trong các hệ thống CNTT. Trong đó, Firewall là giải pháp bảo mật phổ biến nhất, và là một trong những trang bị tiêu chuẩn cần có đối với một hệ thống IPTV. Firewall cho phép người quản trị kiểm soát các truy nhập ra vào hệ thống, ngăn chặn những truy nhập bất hợp pháp. Các Firewall thế hệ mới ngoài chức năng kiểm soát kết nối cơ bản còn được tích hợp thêm các module bảo mật khác như: module phát hiện và ngăn chặn xâm nhập, module thiết lập kết nối mạng riêng ảo, module dò quét virus,… Trong quá trình vận hành, việc phân tích dữ liệu log của Firewall đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động, điều tra truy vết khi xảy ra sự cố trên hệ thống, thống kê đánh giá lưu lượng kết nối và hiệu năng của hệ thống, v.
Đặc biệt, do lưu lại những thông tin liên quan đến các kết nối từ bên ngoài vào hệ thống nên dữ liệu log của Firewall rất hữu ích trong việc phát hiện và cảnh báo các cuộc tấn công từ chối dịch vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Log của các loại Firewall khác nhau sẽ có cấu trúc khác nhau, được lưu dưới những định dạng khác nhau. Hai định dạng phổ biến của log Firewall là cơ sở dữ liệu và logfile. Luận văn này sẽ tập trung vào việc phân tích dữ liệu log được lưu trữ dưới dạng file nhằm mục đích phát hiện ra các cuộc tấn công Từ chối dịch vụ.
Ví dụ về cấu trúc logfile của Firewall ISA Server 2006: Hình 1.2: Dữ liệu logfile của Firewall ISA Server 2006 1. Router syslog Router syslog ghi lại những thông tin được quan sát bởi router, chẳng hạn các liên kết (link), thay đổi trạng thái giao thức liên quan, đưa ra cảnh báo về môi trường (ví dụ điện áp, nhiệt độ), các cảnh báo khác như vi phạm về quy tắc định tuyến,v.