Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ VIDEO VÀ PHÁT HIỆN ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG 1. Tổng quan về xử lý Video 1. Sơ lược về Video Ngày nay, không ai có thể phủ nhận các thành tựu mà ngành công nghệ thông tin mang lại. Trong đó, đa phương tiện là một khía cạnh quan trọng với nhiều ứng dụng thiết thực nhằm làm cho xã hội ngày càng phát triển hơn, văn minh hơn.
Nhưng với sự phát triển không ngừng như hiện nay của công nghệ thông tin, như thế vẫn là chưa đủ. Vẫn cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu liên quan đến khía cạnh này. Trong đó phải kể đến một lĩnh vực rất quan trọng của đa phương tiện, đó là Video và xử lý video. Video là sự tái tạo ảnh tự nhiên theo không gian và thời gian hoặc cả hai, thực chất là một dãy ảnh liên tục theo thời gian nhằm mô phỏng sự chuyển động.
Việc dùng ảnh liên tục để mô tả chuyển động theo thời gian đã xuất hiện gần 2 thế kỉ nay. Năm 1834 nhà toán học William George Horner đã phát minh ra cách mô tả này. Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu khác được triển khai và đã có những ứng dụng đáng kể. Năm 1887, khi Hannubal Good phát minh ra phim ảnh thì vấn đề ảnh chuyển động được quan tâm đặc biệt vì những lợi ích kinh tế mà nó mang lại.
Năm 1895, một hệ thống camera/Projector với các chuẩn phim (35mm chiều rộng, 24 khung hình trên giây) được phát triển bởi Louis Lumiére. Sự chuẩn hóa của video tương tự trong những năm đầu của thập niên 1950 (NTSC) và những năm cuối của 1960 (SECAM và PAL) làm cho ảnh chuyển động xuất hiện hầu như khắp nơi, với các thiết bị vô tuyến được dùng rộng rãi cho mục đích giải trí, các hệ thống ứng dụng công nghệ như phát hiện chuyển động tiếp tục được phát triển. Vào năm 1990, các tổ chức về chuẩn hóa như tổ chức ISO-IEC (International Organization for Standard – International Electrotechnical Commission) đã đưa ra chuẩn MJPEG cho video kĩ thuật số, tổ chức chuẩn ITU-T (International Telecommunication Union) đã đưa ra chuẩn H.261 và một số các chuẩn liên quan khác. Đi kèm với nó là các thiết bị tin học giá rẻ đã tạo nên sự phát triển bùng nổ cho các ứng dụng đa phương tiện.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Video tương tự NTSC Video: Đây là dạng Video tương tự với 525 dòng trên một khung hình, 30 khung hình trong một giây, quét cách dòng, chia làm hai trường (mỗi trường 262.5 dòng), có 20 dòng dự trữ cho thông tin điều khiển tại thời điểm bắt đầu mỗi trường. PAL Video: Dạng Video này có 625 dòng trên một khung hình, 25 khung hình trong một giây, quét cách dòng. Khung gồm hai trường chẵn lẽ, mỗi trường bao gồm 312.2 Video số Một số tiêu chuẩn của Video số lấy theo tiêu chuẩn CCIR (Consultative Committee for International Radio) Bảng1. Các tiêu chuẩn của Video số CCIR CCIR 601625/50 601525/60 CIF QCIF PAL/SECAM NTSC Độ phân giải 720x480 360x576 352x288 176x144 độ chói Độ phân giải 360x480 360x576 176x144 88x72 màu sắc Lấy mẫu màu 4:2:2 4:2:2 4:2:0 4:2:0 Số trường /s 60 50 30,15,10,7.5 Cách quét Cách dòng Cách dòng Liên tục Liên tục 1.
Các chuẩn video Các chuẩn do tổ chức chuẩn ISO-IEC (International Organization for Standard- International Electrotechnical Commission) đưa ra bao gồm: Chuẩn MJPEG MJPEG (Motion JPEG) là tên gọi của một lớp các quy cách của video, trong đó mỗi frame của video hoặc phạm vi được kết hợp lại của một dãy video số được nén lại một cách độc lập như là một ảnh JPEG MJPEG sử dụng hình thái nén dựa trên phép biến đổi cosin rời rạc. Phép toán này chuyển đổi mỗi frame của video nguồn từ miền thời gian xác định vào miền tần số. Một mô hình tri giác dựa theo một cách không chặt chẽ vào hệ thống trực quan của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 con người để loại bỏ thông tin có tần số cao, ví dụ như sự chuyển đổi một cách chính xác theo cường độ và màu sắc. Trong miền chuyển đổi, việc xử lý rút gọn các thông tin được gọi là lượng tử.
Trong đó, lượng tử là một phương pháp làm giảm được một nhóm tỷ lệ lớn (với sự xẩy ra khác nhau của mỗi một nhóm) vào một nhóm nhỏ hơn, và miền chuyển đổi này rất thuận tiện cho việc biểu diễn ảnh bởi các hệ số có tần số cao, nó góp phần làm giảm các ảnh trên hơn là các hệ số khác với những đặc tính có giá trị nhỏ với hệ số nén cao. Các hệ số lượng tử này ngay sau đó được xếp dãy và đóng gói vào đầu ra của các tuyến bit. Gần như việc thi hành của tất cả các phần mềm của chuẩn MJPEG cho phép người dùng điểu khiển trên tỉ lệ nén (như là các tham biến tùy ý khác), cho phép người sử dụng để trao đổi ngoại tuyến đối với các tệp có kích thước nhỏ hơn. Trong các ứng dụng nhúng (miniDV, nó được sử dụng tương tự như sự pha trộn nén biến đổi cosine rời rạc), Các tham biến này được lựa chọn trước và thiết lập cho ứng dụng.
Chuẩn Video MPEG-1 MPEG-1 là một chuẩn được phát triển và thừa nhận năm 1992 để lưu trữ dạng nén thô các Video dạng CIF và kết hợp với audio khoảng 1.5 Mbps (các tỉ lệ nén tách biệt là 26:1 và 6:1) trên nhiều môi trường lưu trữ số khác nhau như VCD , DAT, Winchester, đĩa quang, cáp, vệ tinh số và truyền thanh số với ứng dụng chính là các hệ thống đa phương tiện trực tuyến Chuẩn MPEG-1 còn được gọi là ISO/IEC-11172 bao gồm các phần sau: 1. Kiểm tra sự đúng đắn (kiểm tra sự chính xác của việc thực hiện chuẩn) 5. Các phần mềm cơ sở (chẳng hạn như các phần mềm mã hóa và giải mã) Cụ thể chuẩn MPEG-1 cho Video như sau Không gian màu của MPEG-1 Trước khi mã hóa video thành MPEG-1, không gian màu được chuyển đổi thành Y‟CbCr (Y‟=Luma, Cb = Thành phần màu Blue, Cr = thành phần màu Red). Luma bao gồm độ sáng và độ phân giải được lưu trữ tách biệt nhau theo thành phần (màu, màu sắc, giai đoạn) và được phân biệt giữa các thành phần Red và Blue Các đặc tính của MPEG-1 Là tiêu chuẩn tổng quát cú pháp, hỗ trợ ước lượng chuyển động, dự đoán bù chuyển động, dùng thuật toán mã hóa rời rạc cosine TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Không định nghĩa các thuật toán xác định cụ thể mà thiết kế bộ mã hóa linh hoạt Khả năng phục vụ các ảnh khác nhau, hoạt động trên các thiết bị, tốc độ khác nhau.
Truy cập ngẫu nhiên dựa trên các điểm truy cập độc lập. Tìm nhanh xem như quét dòng bit mã hóa, chỉ hiển thị các khung được chọn. Trễ mã hóa và giải mã hợp lý (1s), gây ấn tượng tốt cho truy cập video đơn công. MPEG-1 chỉ xét các tín hiệu Video lũy tiến.
Sử dụng không gian màu (Y, Cr, Cb) đã được thừa nhận theo kiến nghị CCIR 601. Trong SIF (Standard Input Format) MPEG kênh chính là 352 pixel x 240 dòng và 30 khung hình/s. Sau đây là một số ràng buộc đối với MPEG-1: Bảng 1. Một số ràng buộc của MPEG-1 Số pixel lớn nhất trên một dòng 720 Số dòng lớn nhất trên một ảnh 576 Số ảnh trong một giây 30 Số MB trên một ảnh 396 Số MB trên một giây 9900 Tốc độ bit tối đa 1.86 Mbps Kích thước bộ đệm giải nén tối đa 376.832 bits Chuẩn Video MPEG-2 MPEG-2 là một phiên bản mở rộng của MPEG-1 để cung cấp phạm vi rộng các ứng dụng với tốc độ bit và các độ phân giải khác nhau (2-20Mbps) Các đặc tính chính MPEG-2 được sử dụng rộng rãi như là định dạng của các tín hiệu vô tuyến kỹ thuật số, các tín hiệu này có thể là tín hiệu vệ tinh, tín hiệu hữu tuyến, vô tuyến.
Nó cũng định dạng cho phim ảnh và một số chương trình khác được lưu trên DVD hoặc một số đĩa từ tương tự. MPEG-2 là một chuẩn quốc tế và còn có tên gọi khác là ISO/IEC 13818 Chuẩn MPEG-2 cho video tương tự như chuẩn MPEG-1 Chuẩn Video MPEG-4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 MPEG-4 phát triển cho tốc độ bit rất thấp từ 4.8 đến 68 kbps, tuy nhiên sau đó đã nâng tốc độ lên đáng kể. - Video: 5kbps đến 10 Mbps - Audio: 2kbps đến 64 kbps Dạng chuẩn này nhằm hỗ trợ phát triển riêng cho các đối tượng khác nhau tạo khả năng thích nghi, linh động để cải thiện chất lượng của các dịch vụ như: tivi số, đồ họa trình diễn, World Wide Web, videophone và các mở rộng của chúng. MPEG-4 còn được gọi là chuẩn ISO/IEC 14496 Chuẩn Video MPEG-7 Được thừa nhận thành tiêu chuẩn quốc tế tháng 7/2001 MPEG-7 đề xuất cho việc tìm kiếm, chọn lựa, quản lý và phân tích thông tin đa phương tiện, không tập trung vào một ứng dụng cụ thể, không phải là một tiêu chuẩn mã hóa thực sự cho Audio, Video hay multimedia.
MPEG-7 cũng là một dạng phát triển lên từ phiên bản của MPEG-1 và nó đang được phát triển. MPEG-7 cung cấp một tập hợp đầy đủ các công cụ chuẩn hóa để mô tả nội dung của đa phương tiện. Cả người dùng và hệ thống tự động xử lý hệ âm thanh thực đều thuộc phạm vi của MPEG-7. Ngoài ra, tổ chức chuẩn ITU-T (International Telecommunication Union) cũng đưa ra một số chuẩn cho Video như sau: Chuẩn H.120 là chuẩn đầu tiên cho việc mã hóa video kĩ thuật số.
được đưa ra vào những năm 1984.120 chạy với tốc độ 1544kbit/s cho NTSC và 2048 cho PAL Chuẩn Video H.261 được phát triển cho dịch vụ truyền hình hội nghị và Video phone qua ISDN ở tốc độ px64kbps/s (p=1, 2, …,30), H.261 làm cơ sở cho các chuẩn nén sau này như MPEG 1, 2.261 sử dụng dạng thức trung gian CIF (Common Intermediate Format) với các tốc độ bit thấp hơn, nó sử dụng dạng có tốc độ nhỏ hơn ¼ là QCIF (Quadrature). Với tốc độ 30 khung hình/s thì tốc độ dữ liệu của CIF là 37.3 Mbps, QCIF là 9. Tốc độ càng thấp thì càng giảm số khung hình/s. Tín hiệu video được phân thành các lớp, mỗi lớp đều có các header để định nghĩa các tham số được sử dụng bởi bộ mã hóa khi tạo dòng bit.
Lớp ảnh được phân thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 các nhóm khối GOB (Group of Block), các GOB bao gồm các MB (MacroBlock). MB là đơn vị nhỏ nhất bao gồm 4 khối 8x8 của tín hiệu Y và hai khối 8x8 của tín hiệu sắc. Lớp GOB luôn được kết hợp của 33 MB hợp thành ma trận 3x11. Mỗi MB có một header chứa địa chỉ MB và kiểu nén, tiếp theo là dữ liệu của khối.