Tổng quan nghiên cứu

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự suy thoái kinh tế giai đoạn 2008 - 2012 đã tạo ra áp lực nặng nề lên hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Tình trạng nợ xấu tăng vọt từ mức 3,90% vào cuối năm 2012 lên đỉnh điểm 4,53% vào tháng 10 năm 2013, thậm chí ước tính theo số liệu điều chỉnh của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC) lên tới 5,66%. Nợ xấu được xem như một cục máu đông làm tắc nghẽn dòng vốn tín dụng, đẩy nhiều ngân hàng vào tình trạng mất thanh khoản và bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt. Trước nguy cơ đe dọa sự an toàn của toàn hệ thống tài chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 843/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2013 phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu và thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Luận văn tập trung nghiên cứu khung pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam thông qua thực tiễn vận hành của VAMC. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của nợ xấu, phân tích cấu trúc hệ thống quy phạm pháp luật liên quan, đánh giá toàn diện kết quả và những rào cản thể chế mà VAMC gặp phải trong quá trình mua bán, xử lý nợ và tài sản bảo đảm. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu tại 41 tổ chức tín dụng trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 6 năm 2016. Đóng góp của đề tài thể hiện qua việc đánh giá công cụ trái phiếu đặc biệt giúp đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống dưới 2,55% vào cuối năm 2015, xử lý gom 24.618 khoản nợ với tổng dư nợ gốc 247.448 tỷ đồng và thu hồi lũy kế 31.172 tỷ đồng tiền mặt, từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp thiết thực nhằm hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng và an toàn hệ thống ngân hàng theo tiêu chuẩn của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) cùng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Theo chuẩn mực quốc tế, nợ xấu là các khoản cấp tín dụng bị quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên, hoặc có những dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng về khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật định hình nợ xấu qua Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN với mô hình phân loại nợ thành 5 nhóm dựa trên phương pháp định lượng và định tính. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể tương ứng với từng nhóm gồm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) là 0%, Nhóm 2 (nợ cần chú ý) là 5%, Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) là 20%, Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) là 50% và Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) là 100%. Nợ xấu được xác định là tổng các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng mô hình định chế quản lý tài sản tập trung quốc gia (Centralized AMC). Mô hình này dựa trên lý thuyết xử lý khủng hoảng ngân hàng thông qua việc thành lập một công ty chuyên nghiệp thuộc sở hữu nhà nước để tiếp nhận tập trung các tài sản có vấn đề. Nghiên cứu tham chiếu kinh nghiệm thực tiễn từ tổ chức KAMCO của Hàn Quốc (giúp hạ tỷ lệ nợ xấu từ 17,7% năm 1998 xuống 3,9% năm 2002) và tổ chức Danaharta của Malaysia (được cấp vốn ban đầu 3 tỷ ringgit và bảo lãnh phát hành 25 tỷ ringgit trái phiếu để mua lại các khoản nợ có giá trị từ 5 triệu ringgit trở lên). Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt bao gồm: trái phiếu đặc biệt (Special Bonds), tái cấp vốn của ngân hàng trung ương, xử lý tài sản bảo đảm và mua bán nợ theo giá trị thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Về cỡ mẫu nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát và thu thập toàn bộ dữ liệu của 41 tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã thực hiện bán nợ xấu cho VAMC, bao quát tổng thể 24.618 khoản nợ với quy mô dư nợ gốc đạt 247.448 tỷ đồng và tổng giá mua nợ đạt 211.390 tỷ đồng.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu toàn bộ (comprehensive sampling), khảo sát 100% các hồ sơ giao dịch chuyển giao nợ xấu và phát hành trái phiếu đặc biệt phát sinh từ ngày 01 tháng 10 năm 2013 đến ngày 18 tháng 6 năm 2016. Việc chọn mẫu tổng thể bảo đảm tính bao quát tuyệt đối, phản ánh chân thực toàn bộ bức tranh pháp lý và hoạt động xử lý nợ tập trung tại Việt Nam mà không bị sai lệch do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh luật học và phương pháp tổng hợp logic. Việc kết hợp này là bắt buộc vì đề tài thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, đòi hỏi phải mổ xẻ từng điều khoản của Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Nghị định 34/2015/NĐ-CP và Thông tư 19/2013/TT-NHNN, đồng thời phải đối chiếu với các số liệu tài chính thực tế để chứng minh tính hiệu quả hoặc chỉ ra những xung đột, khoảng trống pháp luật trong thực tiễn áp dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công cụ mua bán nợ bằng trái phiếu đặc biệt đã phát huy hiệu quả nhanh chóng trong việc làm sạch bảng cân đối tài sản của các tổ chức tín dụng. Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 6 năm 2016, VAMC đã mua 24.618 khoản nợ tại 41 tổ chức tín dụng với tổng dư nợ gốc 247.448 tỷ đồng, giá mua nợ đạt 211.390 tỷ đồng. Riêng trong năm 2015, VAMC đã mua 13.326 khoản nợ với 109.780 tỷ đồng dư nợ gốc, vượt 24,7% so với chỉ tiêu kế hoạch 80.000 tỷ đồng ban đầu. Điều này đóng góp quyết định đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng từ mức đỉnh 4,53% về mức 2,55% vào cuối năm 2015.

Thứ hai, cơ cấu tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua tập trung phần lớn vào bất động sản. Số liệu thống kê từ danh mục nợ cho thấy: bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất với 63,0%, tài sản gắn liền trên đất chiếm 7,91%, máy móc thiết bị chiếm 5,24%, phương tiện vận tải chiếm 4,43%, quyền đòi nợ chiếm 2,78%, giấy tờ có giá chiếm 2,52% và các tài sản khác chiếm 13,14%.

Thứ ba, tỷ lệ thu hồi nợ bằng tiền mặt còn thấp so với tổng dư nợ đã mua gom. Lũy kế đến tháng 6 năm 2016, VAMC phối hợp với các tổ chức tín dụng thu hồi được 31.172 tỷ đồng, chỉ đạt tỷ lệ khoảng 14,0% trên tổng số dư nợ gốc. Riêng quý 1 năm 2016 thu hồi được 3.217 tỷ đồng. Thực tế này phản ánh nợ xấu mới chỉ được cách ly tạm thời khỏi bảng cân đối nội bảng chứ chưa được xử lý thực chất ra khỏi nền kinh tế.

Thứ tư, tình trạng nợ xấu có sự phân hóa gay gắt giữa các nhóm tổ chức tín dụng. Nghiên cứu chỉ ra 15 trên 38 ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng an toàn 3,0%, điển hình như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây dựng Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu lên tới 53,24% và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu đạt mức 22,54%.

Thảo luận kết quả

Cơ chế mua bán nợ bằng trái phiếu đặc biệt kỳ hạn 5 năm thực chất là giải pháp phân bổ tổn thất theo thời gian. Tổ chức tín dụng bán nợ được giảm áp lực trích lập dự phòng ngay lập tức và được phân bổ trích lập dự phòng 20% mỗi năm vào chi phí hoạt động theo công thức tại Nghị định 34/2015/NĐ-CP. Đồng thời, tổ chức tín dụng được phép dùng trái phiếu đặc biệt để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước với tỷ lệ tối đa 70% mệnh giá (hoặc lên đến 100% đối với ngân hàng đang thực hiện phương án tái cơ cấu). Tuy nhiên, nếu sau 5 năm khoản nợ không thể xử lý, tổ chức tín dụng phải nhận lại khoản nợ và dùng chính nguồn dự phòng rủi ro đã trích lập để bù đắp.

Hạn chế lớn nhất trong giai đoạn nghiên cứu là VAMC chưa thể đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ theo giá trị thị trường. Vốn điều lệ ban đầu của VAMC chỉ ở mức 500 tỷ đồng, sau đó được điều chỉnh tăng lên 2.000 tỷ đồng vào năm 2015. Quy mô vốn này là quá nhỏ bé so với khối nợ xấu hơn 247.000 tỷ đồng cần xử lý. Trong năm 2016, VAMC chỉ mới đặt kế hoạch dùng 2.000 tỷ đồng vốn điều lệ để mua khoảng 5.000 tỷ đồng dư nợ theo giá thị trường.

Để minh họa trực quan các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cơ cấu tài sản bảo đảm với lát cắt 63,0% dành cho bất động sản, kết hợp cùng bảng so sánh đối chuẩn pháp lý giữa cơ chế thu giữ tài sản của VAMC với quyền định đoạt tài sản đặc thù của tổ chức Danaharta tại Malaysia và KAMCO tại Hàn Quốc. Sự so sánh này làm nổi bật điểm nghẽn pháp lý lớn nhất tại Việt Nam: quyền thu giữ, phát mại tài sản bảo đảm của VAMC vẫn phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác của bên vay hoặc thủ tục khởi kiện kéo dài tại tòa án.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường năng lực tài chính và quy mô vốn điều lệ của VAMC. Cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính cần phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nâng vốn điều lệ của VAMC từ mức 2.000 tỷ đồng lên tối thiểu 5.000 tỷ đến 10.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2016 - 2020. Mục tiêu là tạo nguồn vốn mồi đủ mạnh để VAMC triển khai mua nợ xấu theo giá trị thị trường với quy mô đạt tối thiểu 10.000 tỷ đến 15.000 tỷ đồng mỗi năm, chuyển dần từ cơ chế mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt sang mua bán đứt đoạn theo cơ chế thị trường.

Thứ hai, hoàn thiện quyền thu giữ và xử lý nhanh tài sản bảo đảm. Quốc hội và Chính phủ cần khẩn trương nghiên cứu ban hành một nghị quyết chuyên đề về xử lý nợ xấu trong giai đoạn 2016 - 2017. Văn bản này cần trao quyền hợp pháp cho VAMC và các tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên mà không cần thông qua thủ tục tố tụng dân sự kéo dài, giúp rút ngắn chu kỳ xử lý tài sản từ 24 - 36 tháng xuống dưới 12 tháng.

Thứ ba, mở rộng chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ thứ cấp. Quốc hội cần sửa đổi Điều 26 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, cho phép các doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài không có chức năng kinh doanh mua bán nợ chuyên biệt vẫn được quyền mua lại nợ xấu và tài sản bảo đảm từ VAMC. Giải pháp này cần triển khai ngay trong năm 2017 nhằm thúc đẩy thanh khoản thị trường mua bán nợ tăng trưởng tối thiểu 25% mỗi năm.

Thứ tư, tối ưu hóa cơ chế trích lập dự phòng và tái cấp vốn qua trái phiếu đặc biệt. Ngân hàng Nhà nước cần duy trì chính sách linh hoạt cho phép tổ chức tín dụng yếu kém được khấu trừ các khoản nợ đã thu hồi khi tính số tiền dự phòng hàng năm, đồng thời bảo đảm hạn mức tái cấp vốn duy trì từ 70% đến 100% mệnh giá trái phiếu đặc biệt nhằm ổn định thanh khoản hệ thống trong suốt giai đoạn 2016 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Hội đồng quản trị, Ban điều hành và cán bộ xử lý nợ tại 41 tổ chức tín dụng thương mại. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình chuyển giao 24.618 khoản nợ sang VAMC, phương pháp hạch toán dự phòng rủi ro 20% mỗi năm cho trái phiếu đặc biệt và kỹ năng xử lý danh mục tài sản bảo đảm bất động sản chiếm 63% tỷ trọng.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng hệ thống số liệu về 247.448 tỷ đồng dư nợ gốc cùng các kiến nghị lập pháp trong luận văn để soạn thảo các nghị quyết chuyên đề và thông tư hướng dẫn về quyền thu giữ tài sản bảo đảm.

Thứ ba, luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và các quỹ đầu tư tài chính. Nguồn tài liệu này là căn cứ chuyên sâu hỗ trợ đàm phán hợp đồng mua bán nợ, tái cấu trúc doanh nghiệp và thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập nợ xấu với mục tiêu nâng tỷ lệ thu hồi vốn thành công lên trên 80%.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số 60.07) cùng ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về định chế AMC tập trung và hệ thống dữ liệu so sánh quốc tế đối với các mô hình xử lý nợ tại Hàn Quốc và Malaysia.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất pháp lý và cơ chế vận hành của trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành là gì? Trái phiếu đặc biệt là giấy tờ có giá có thời hạn 5 năm do VAMC phát hành trực tiếp cho tổ chức tín dụng để mua nợ xấu theo giá trị sổ sách. Tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro 20% mỗi năm vào chi phí hoạt động nhưng được sử dụng trái phiếu này để vay tái cấp vốn tối đa 70% mệnh giá tại Ngân hàng Nhà nước.

Tại sao VAMC chưa thể đẩy mạnh việc mua nợ xấu theo giá trị thị trường trong giai đoạn 2013 - 2016? Nguyên nhân chủ yếu do vốn điều lệ của VAMC ban đầu chỉ có 500 tỷ đồng và sau đó tăng lên 2.000 tỷ đồng, chưa đủ tiềm lực mua đứt các khoản nợ lớn. Thêm vào đó, thị trường mua bán nợ thứ cấp chưa phát triển và khung pháp lý còn hạn chế đối tượng tham gia mua nợ ngoài DATC và các AMC ngân hàng.

Cơ cấu tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu tại VAMC có đặc điểm nổi bật nào? Trong tổng số 247.448 tỷ đồng dư nợ gốc VAMC đã mua, tài sản bảo đảm là bất động sản chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 63,0%. Tiếp theo là tài sản gắn liền trên đất chiếm 7,91%, máy móc thiết bị chiếm 5,24%, phương tiện vận tải chiếm 4,43%, giấy tờ có giá chiếm 2,52% và quyền đòi nợ chiếm 2,78%.

Kết quả thu hồi nợ thực tế của VAMC đạt được như thế nào tính đến giữa năm 2016? Tính từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 6 năm 2016, VAMC đã phối hợp với các tổ chức tín dụng thu hồi được 31.172 tỷ đồng tiền mặt, tương ứng tỷ lệ 14,0% trên tổng dư nợ gốc đã mua. Riêng 3 tháng đầu năm 2016, kết quả thu hồi đạt 3.217 tỷ đồng nhờ đẩy mạnh xử lý tài sản và khởi kiện khách hàng.

Kinh nghiệm quốc tế từ KAMCO (Hàn Quốc) và Danaharta (Malaysia) mang lại bài học gì cho Việt Nam? KAMCO và Danaharta thành công nhờ được chính phủ cấp nguồn vốn lớn (Danaharta có 3 tỷ ringgit vốn ban đầu và phát hành 25 tỷ ringgit trái phiếu) cùng quyền thu giữ, đấu giá tài sản bảo đảm nhanh chóng mà không cần qua tòa án, đồng thời phát triển thị trường chứng khoán hóa nợ xấu để thu hút nhà đầu tư quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nợ xấu và cấu trúc pháp luật xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.
  • Đánh giá thực chứng kết quả mua 24.618 khoản nợ với quy mô 247.448 tỷ đồng dư nợ gốc, góp phần quan trọng đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành từ đỉnh điểm 4,53% xuống 2,55% vào cuối năm 2015.
  • Chỉ rõ các nút thắt pháp lý then chốt về quy mô vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, cơ chế trích lập dự phòng 20% mỗi năm và quyền thu giữ tài sản bảo đảm bất động sản chiếm 63% danh mục.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, trọng tâm là nâng vốn điều lệ VAMC lên 5.000 - 10.000 tỷ đồng và ban hành văn bản luật chuyên đề trao quyền xử lý tài sản cho chủ nợ.
  • Định hình lộ trình hoàn thiện khung pháp lý giai đoạn 2016 - 2020 nhằm phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp minh bạch, bền vững.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan lập pháp và cơ quan điều hành cần khẩn trương thể chế hóa các đề xuất của luận văn để tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho công tác xử lý nợ xấu. Độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm được khuyến khích tiếp cận toàn văn công trình để khai thác chi tiết hệ thống luận cứ và dữ liệu thực chứng chuyên sâu.