Chương 1 Thông qua việc nghiên cứu những nội dung cơ bản về khái niệm nợ xấu theo quan điểm của lý thuyết tài chính ngân hàng, các tổ chức quốc tế và Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của nợ xấu, sự khác biệt và tương đồng giữa cách hiểu về nợ xấu giữa Việt Nam và thế giới. Điều này có ý nghĩa lý luận quan trọng, bởi muốn thực hiện tốt nhiệm vụ xử lý nợ xấu trước hết cần phải hiểu chính xác về bản chất của nợ xấu để có hướng đi, giải pháp hiệu quả. Cùng với với việc nghiên cứu cấu trúc pháp luật xử lý nợ xấu cho thấy, các thiết chế xử lý nợ xấu là một phần trong cấu trúc pháp luật xử lý nợ xấu. VAMC là một thiết chế, việc xử lý nợ xấu qua VAMC là một công đoạn của quá trình xử lý nợ xấu, vừa mang những đặc điểm chung như DATC của Bộ Tài chính, các AMC của các TCTD vừa có những đặc thù riêng.
Nội dung này sẽ được làm rõ thông qua việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC (Chương 2). 18 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU TỪ THỰC TIỄN CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 2. Khái quát về Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam 2. Tình hình nợ xấu của các TCTD và sự cần thiết thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam a) Tình hình nợ xấu của các TCTD: Trong hoạt động ngân hàng, nợ xấu luôn tiềm ẩn, tuy nhiên tại Việt Nam từ những năm 2008 trở lại đây, tình hình nợ xấu trở nên nghiêm trọng.
Nguyên nhân chính là các ngân hàng phải đối mặt với áp lực về suy thoái kinh tế thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực Đông Nam Á dẫn đến sự suy giảm về thị trường chứng khoán trong nước, lại được bồi thêm bởi cú sốc “vỡ bong bóng” thị trường bất động sản, khiến nhiều khách hàng rơi vào tình trạng mất khả trả nợ. Cùng với đó là các nguyên nhân nội tại ngân hàng như hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ yếu kém, sự mạo hiểm trong đầu tư do ham lợi nhuận bất chấp việc tuân thủ các nguyên tắc về an toàn; vấn đề sở hữu chéo; vấn đề đạo đức tín dụng,v. dẫn đến những rủi ro nghiêm trọng về gia tăng nợ xấu. Con số dưới đây thể thể hiện rõ mối tương quan giữa tỷ lệ gia tăng nợ xấu và tăng trưởng tín dụng.
Diễn biến nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam (Nguồn: Báo cáo của NHNN năm 2013) 19 Trong những tháng đầu năm 2013, tín dụng tăng trưởng chậm do những khó khăn chung của nền kinh tế, đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp phá sản, giải thể và hàng tồn kho, ứ đọng trong sản xuất kinh doanh dẫn đến tỷ lệ nợ xấu của các TCTD tăng liên tục từ 3,90% (cuối năm 2012) lên 4,22% (tháng 6/2013) và đạt đỉnh điểm vào tháng 10/2013 với tỷ lệ 4,53%. Trong 6 tháng cuối năm 2013, nhờ những giải pháp tổng thể của Chính phủ và NHNN, diễn biến nợ xấu đã có những tín hiệu khả quan, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD đã giảm từ 4,53% (cuối tháng 10/2013) xuống 4,34% (cuối tháng 11/2013) và tiếp tục giảm mạnh về mức 3,33% (cuối tháng 12/2013). Nợ xấu có dấu hiệu giảm ở cả khối ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần với tốc độ giảm tương ứng -2,73% và -1,2%. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Tăng giảm năm Khối Ngân hàng Nợ xấu (tỷ đồng) Tỷ lệ nợ xấu (%) 2013 so với 2012 31/12/12 31/12/13 Số tiền % 31/12/12 31/12/13 NHTM Nhà nước 46.282,24 -2,73 3,33 2,88 NHTM Cổ phần 48.856,59 -1,95 3,90 3,33 (Nguồn:Báo cáo của NHNN năm 2013) Tuy nhiên, trong tổng số 38 ngân hàng thương mại, có 18 ngân hàng nợ xấu giảm so với cuối năm 2012, song hầu hết các ngân hàng đều có mức giảm thấp và nhiều ngân hàng có nợ xấu tăng lớn (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam tăng 1.635,4 tỷ đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam tăng 972,3 tỷ đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội tăng 748,1 tỷ đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á tăng 819,1 tỷ đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình tăng 935,3 tỷ đồng) và một số ngân hàng có tốc độ tăng trên 20%.
Như vậy, tính chung toàn hệ thống thì nợ xấu giảm song tại nhiều ngân hàng thì quy mô nợ xấu còn lớn và đang tiếp tục gia tăng nhanh. Xét về tỷ lệ, có 15/38 ngân hàng thương mại tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng lớn hơn 3%, 20 trong đó, cao nhất là Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam với tỷ lệ nợ xấu 53,24% và Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí Toàn cầu 22,54%. Về các khoản nợ được cơ cấu lại: Ngày 22/4/2012, NHNN ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Theo đó, đối với nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, căn cứ tình hình sản xuất, kinh doanh, nếu khách hàng được đánh giá có khả năng trả nợ tốt sau khi cơ cấu lại thì được giữ nguyên nhóm nợ như đã được phân loại nợ trước khi cơ cấu lại.
Quyết định số 780/QĐ-NHNN đã góp phần kiềm chế nợ xấu gia tăng, giúp cho hàng ngàn khách hàng vay không phải chịu lãi suất phạt quá hạn và tiếp tục được tiếp cận vay vốn bình thường ở các TCTD. Tuy nhiên, trong năm 2013, các khoản nợ được cơ cấu lại theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN có xu hướng tăng gần như liên tục. Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, nợ xấu giảm mạnh trong tháng 12 (giảm 23.941,7 tỷ đồng so với tháng 11/2013) song các khoản nợ cơ cấu lại theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN lại tăng rất lớn (51.140,3 nghìn tỷ đồng) cho thấy chất lượng tín dụng chưa thực sự được cải thiện và nợ xấu giảm chủ yếu do các ngân hàng thương mại thực hiện cơ cấu lại nợ. Nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN thì tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 12/2013 của toàn bộ các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ ở mức khoảng 9,5% tổng dư nợ tín dụng.
Một số ngân hàng có nợ xấu hạch toán nội bảng thấp nhưng nợ xấu tính theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN lại rất cao, chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước: Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (nợ xấu nội bảng 3.738,6 tỷ đồng, nợ xấu theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN là 23.068,1 tỷ đồng); Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (tương ứng là 8.714,9 tỷ đồng và 13.854,8 tỷ đồng); Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (tương ứng là 25.369,5 tỷ đồng và 54. Bên cạnh đó, một số ngân hàng thương mại cổ phần cũng có tình hình tương tự: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (nợ xấu nội bảng là 1.593,1 tỷ đồng, nợ 21 xấu theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN là 14.735,8 tỷ đồng), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (con số tương ứng là 1.440,1 tỷ đồng và 16. Với sự chênh lệch lớn về số liệu báo cáo như trên cho thấy chất lượng tín dụng tại nhiều ngân hàng suy giảm nghiêm trọng nhưng lại chưa được đánh giá một cách chính xác, con số nợ xấu chưa được thể hiện đầy đủ và còn bị ẩn đi dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức cơ cấu lại nợ. Trên cơ sở khai thác số liệu báo cáo về dư nợ tín dụng từ Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) của toàn bộ hệ thống các TCTD và sau khi thực hiện việc điều chỉnh dư nợ của một khách hàng khi đang vay ở nhiều TCTD về một nhóm nợ thì có sự chênh lệch khá lớn so với số liệu báo cáo của các TCTD.
Tổng nợ xấu của 122 TCTD sau khi thực hiện chuyển nhóm nợ đến cuối tháng 12/2013 là 182,35 nghìn tỷ đồng (giảm 31,6 nghìn tỷ đồng, 14,8% so với tháng 11/2013) và tỷ lệ nợ xấu là 5,66%. Nợ xấu khi quá 5%, theo kinh nghiệm của thế giới thì lúc này đã trở nên đe dọa sự an toàn của hệ thống. Trước tình hình nợ xấu gia tăng, việc xử lý nợ xấu bằng phương pháp truyền thống thông qua trích lập dự phòng và dùng dự phòng rủi ro để xử lý của các TCTD không thể đáp ứng. Đặc biệt giai đoạn 2009-2013 là một giai đoạn các TCTD gặp vô vàn khó khăn trong hoạt động kinh doanh, thiếu vốn, siết chặt hoạt động tín dụng, cắt giảm quy mô hoạt động, v.
điều này dẫn đến lợi nhuận suy giảm, việc trích lập dự phòng là không khả thi. b) Sự cần thiết phải thành lập VAMC Đáp ứng yêu cầu xử lý nhanh, có hiệu quả và bền vững nợ xấu của các TCTD, nhằm thực hiện thành công Đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, việc xử lý nợ xấu là yêu cầu cấp bách và nhiệm vụ trọng tâm của các TCTD. Tuy nhiên trước tình hình nợ xấu ngày càng gia tăng, cần phải có một tổ chức độc lập, chuyên nghiệp với quy mô hoạt động lớn, có khả năng tiếp nhận và xử lý tập trung các khoản nợ xấu của các TCTD, tối đa hóa giá trị thu hồi vốn, khơi 22 thông một khối lượng lớn vốn, tài sản đang bị đọng dưới dạng các khoản nợ xấu của các TCTD. Mặc dù khuôn khổ thể chế và quy định an toàn hoạt động ngân hàng hiện nay đã cho phép TCTD có các biện pháp ghi nhận và xử lý nợ xấu, rủi ro tín dụng như mua bán nợ, thành lập Công ty mua bán nợ thuộc Bộ tài chính (DATC), xử lý rủi ro tín dụng bằng dự phòng rủi ro, v.
Tuy nhiên, thể chế và quy định xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng hiện nay chưa hoàn chỉnh và chưa có hiệu quả cao để giúp các TCTD xử lý nhanh, kịp thời nợ xấu, cụ thể: - DATC thuộc Bộ Tài chính chưa đủ khả năng để xử lý nợ xấu của các TCTD.