Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 1. Khái quát về môi trường đô thị 1. Khái niệm môi trường đô thị Môi trường đô thị là khái niệm được tạo thành từ các khái niệm môi trường và khái niệm đô thị. Trong đó: - Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, đất, nước, không khí, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội… [28].
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng chịu sự tác động của con người. Đó là ánh sánh mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Theo nghĩa hẹp, môi trường không bao gồm tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ có các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người. Ví dụ môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội… Dưới góc độ ghi nhận trong pháp luật, môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [14].
7 - Đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ. Quan điểm chung này được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Trên thực tế, sự phát triển của phân công lao động xã hội, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của công nghiệp và thương mại đã dẫn tới sự hình thành và phát triển một loại hình kết cấu kinh tế - xã hội mới là các điểm dân cư gắn với hoạt động sản xuất tập trung có tính công nghiệp, mang tính chuyên môn hóa và mang sắc thái khác với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đó là hình thái ban đầu của đô thị.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [28]. Dưới góc độ pháp lý, đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể hiểu môi trường đô thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động của dân cư đô thị. Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vật chất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của thiên nhiên và con người tại các điểm dân cư trong đô thị.
Môi trường đô thị gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, các công trình công cộng, hạ tầng giao thông, công viên, cây xanh, các công 8 xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị (cấp nước, cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…). Đặc điểm của môi trường đô thị được nhận biết qua đặc điểm của môi trường, đặc điểm của đô thị, gồm: Thứ nhất, môi trường đô thị là không gian sống của cư dân đô thị [26]. Chức năng này đòi hỏi môi trường đô thị phải có một phạm vi không gian thích hợp với cuộc sống của cư dân đô thị. Do đó, môi trường đô thị phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cảnh quan, xã hội… Yêu cầu về không gian sống của người dân đô thị thường cao hơn các khu vực khác.
Tuy nhiên, với quy mô dân số lớn, trình độ phát triển cao, các hoạt động sống của con người tại đô thị như sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh… chủ yếu mang lại các tác động xấu đến môi trường đô thị dẫn đến tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đô thị ngày càng gia tăng. Thứ hai, môi trường đô thị là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết Môi trường đô thị cung cấp tài nguyên cần thiết như ánh sáng, đất, nước, không khí. cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân đô thị [26]. Đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các khu vực khác nên nhu cầu về tài nguyên của đô thị cũng cao hơn, cả về số lượng và chất lượng nên môi trường đô thị chịu áp lực về tài nguyên giới hạn.
Tính bình quân đầu người, dân số đô thị tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên (như năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa.) gấp 2 - 3 lần so với người dân sinh sống ở nông thôn. Thứ ba, môi trường đô thị là nơi chứa đựng rất nhiều chất phế thải do cư dân đô thị tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, gây bệnh tật cho cuộc sống của con người [26] Trong quá trình sinh sống và phát triển, con người luôn đào thải ra các 9 chất thải vào môi trường, nhất là tại các khu đô thị, với số lượng dân cư đông, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy các chất thải, do đó chất lượng môi trường sẽ giảm, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, có khả năng gây bệnh cho con người. Môi trường đô thị phụ thuộc vào loại đô thị, vùng miền của đô thị đó và mức độ đô thị hóa. Những nơi tập trung ít dân cư, mức độ đô thị hóa chậm, môi trường đô thị sẽ trong lành hơn, ít bị xáo trộn hơn và ngược lại, những nơi dân cư tập trung đông đúc, hoạt động giao thương diễn ra tấp nập, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, môi trường đô thị khó kiểm soát hơn, biến đổi nhanh hơn và chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro cho cuộc sống của con người hơn.
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh còn có nhiều ảnh hưởng đáng kể đến môi trường đô thị và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái như tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước. Như vậy, bên cạnh yêu cầu chung về vệ sinh môi trường đối với mọi đô thị, còn có yêu cầu riêng đối với từng loại, nhóm đô thị. Tùy từng loại đô thị khác nhau mà các yêu cầu về vệ sinh môi trường cũng khác nhau. Ví dụ như các loại đô thị loại II trở lên cần phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải.
Sự cần thiết phải vệ sinh môi trường đô thị Hiện tại, môi trường đô thị đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 - chuyên đề “Môi trường đô thị”, hầu hết các đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng, tập trung chủ yếu là ô nhiễm bụi [20]. Mức độ ô nhiễm giữa các đô thị có sự khác biệt, phụ thuộc vào quy mô đô thị, mật độ dân số, đặc biệt là mật độ giao thông và tốc độ xây dựng. Mức độ ô nhiễm biểu hiện rõ nhất ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí 10 Minh, tiếp đến là các đô thị loại I.
Nhóm các đô thị còn lại có mức độ ô nhiễm thấp hơn. Cụ thể như sau: Thứ nhất, ô nhiễm môi trường đất đô thị. Ô nhiễm môi trường đất là kết quả hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt quá giới hạn sinh thái của các quần thể sống trong đất [24]. Ô nhiễm môi trường đất xảy ra khi đất bị nhiễm các hóa chất độc hại có hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép.
Đó là các hoạt động của con người gây ra như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều… với các chất gây ô nhiễm đất phổ biến là hydrocacbon, kim loại nặng, các loại hydrocacbon clo hóa. Ô nhiễm đất tại các đô thị do rất nhiều nguyên nhân gây ra [24]. Chất thải rắn là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm đất đô thị. Chất thải rắn đô thị phát sinh chủ yếu từ các nguồn: chất thải sinh hoạt, chất thải từ khu thương mại; từ các công trình xây dựng; từ các hoạt động nông nghiệp; từ các cơ quan, bệnh viện, trường học… Bên cạnh đó, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản trong vùng đô thị theo nước mưa chảy xuống, thấm vào lòng đất khiến cho chất lượng đất đô thị ngày càng xấu [24].
Thêm nữa là ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm do việc quản lý kém cũng đang làm cho ô nhiễm đất đô thị gia tăng. Thứ hai, ô nhiễm môi trường nước đô thị. Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật [21]. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị ngày càng tăng nhanh do 11 tăng dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị.