Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẻ tín dụng và pháp luật về hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 12 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẺ TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HÌNH THỨC PHÁT HÀNH THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về thẻ tín dụng và hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ tín dụng xuất hiện đầu tiên tại Mỹ những năm đầu thế kỉ 20 bắt nguồn từ việc các chủ tiệm bán lẻ cho phép khách hàng mua chịu dựa trên uy tín của khách hàng đó với tiệm. Năm 1946, John Biggins sáng lập ra Charg-it, một hệ thống mua bán chịu cho phép khách hàng mua bán chịu hàng hóa tại cửa hàng sau đó nộp lại biên lai cho ngân hàng của John, ngân hàng sẽ đứng ra thanh toán và khách hàng sẽ trả lại tiền cho ngân hàng. Đó là cơ chế hoạt động đơn giản nhất của chiếc thẻ tín dụng mà chúng ta biết tới ngày nay.
Vào năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider sau một lần đi ăn ở nhà hàng và bị từ chối thanh toán bằng séc do quên không mang theo tiền mặt đã thành lập ra Diner’s Club với ý tưởng kinh doanh thẻ cho hội viên cho phép họ có thể mua sắm hàng hóa dịch vụ, Diner Club sẽ đứng ra trả cho các cửa hàng tiền hàng hóa dịch vụ vào cuối tháng, sau đó phát hành bảng kê cho các hội viên và yêu cầu hội viên thanh toán lại định kì theo tháng cho Diner Club. Tấm thẻ tín dụng đầu tiên được làm bằng Plastic và không giới hạn số tiền được phép chi tiêu. Đến năm 1951, ngân hàng Franklin National Bank nay được biết tới là ngân hàng Europe American Bank là ngân hàng đầu tiên phát hành ra thẻ tín dụng. Năm 1958, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ 13 BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới.
Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Năm 1966, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (Interbank Card Association - ICA) thành lập gồm 14 ngân hàng Mỹ. Họ chung nhiệm vụ thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia, phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Sau đó đến năm 1967, 4 ngân hàng ở California đổi tên từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA) với sản phẩm thẻ là MasterCharge – đây là tiền thân của MasterCard.
Vào những năm 60 của thế kỉ 20, thẻ tín dụng đã trở thành một trong những công cụ thanh toán thông dụng trên thế giới. Lúc bấy giờ, chủ thẻ tín dụng phải là người có vị thế xã hội, có năng lực tài chính nhất định. Trải qua quá trình phát triển không ngừng, thế giới chứng kiến sự biến đổi và cải tiến mạnh mẽ của thẻ tín dụng với hai tổ chức chiếm lĩnh thị phần lớn nhất hiện nay là Visa và Mastercard. Ở Việt Nam, với sự kiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ký kết hợp đồng đại lý thanh toán thẻ Visa với ngân hàng BFCE Singapore, thẻ tín dụng đã chính thức tiến vào thị trường.
Tuy nhiên, cụm từ “thẻ tín dụng” lần đầu tiền được nhắc tới trong các quy định pháp luật là tại Điều 24 Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/02/1994 về Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt. Trong đó, thẻ tín dụng được nhắc đến là một trong ba loại của thẻ thanh toán và chỉ “áp dụng đối với khách hàng có đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay tiền. Khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản”. Sau đó, ngày 14 19/10/1999, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN về Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng trong đó ghi nhận thẻ tín dụng là một trong hai loại thẻ ngân hàng và “là loại thẻ cho phép Chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được tổ chức phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng”.
Đến năm 2007, khái niệm về thẻ tín dụng một lần nữa được sửa đổi trong Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN về “Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng”, theo đó, “Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép Chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Giao dịch thẻ ở đây được hiểu là “việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng”. Ngày 30/06/2016, Thông tư 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng kế thừa tư tưởng của Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN về khái niệm thẻ tín dụng và khái niệm này vẫn tiếp tục được giữ nguyên qua nhiều lần sửa đổi các quy định có liên quan cho đến nay. Thạc sỹ Nguyễn Minh Thắng cho rằng: “Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán do ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận với Chủ thẻ để đáp ứng các nhu cầu tín dụng, thanh toán trong một hạn mức tiền nhất định thông qua việc xác lập quan hệ thanh toán giữa Chủ thẻ với Đơn vị chấp nhận thẻ, đồng thời cũng xác lập quan hệ vay nợ giữa Chủ thẻ với tổ chức đã phát hành thẻ” [24, tr.
Thẻ tín dụng có thể nói là một loại “công cụ” đặc biệt, nó là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do các tổ chức tín dụng trong đó có ngân hàng thương mại phát hành theo thoả thuận với chủ thẻ để đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một hạn mức nhất định thông qua việc xác lập quan hệ thanh toán giữa các tổ chức phát hành ra 15 nó với đơn vị chấp nhận thẻ và đồng thời xác lập mối quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ và tổ chức phát hành. Khi phát hành các tổ chức tín dụng sẽ dựa trên chứng minh về thu nhập cũng như một số điều kiện nhất định mà cấp cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng để sử dụng, sau đó chủ thẻ sẽ hoàn trả cho các tổ chức này theo thỏa thuận về việc thanh toán cũng như chi phí.2 Khái niệm hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán cho phép chủ thẻ có khả năng chi tiêu trước và trả tiền sau. Khoảng thời gian từ khi thẻ được sử dụng tới lúc chủ thẻ trả tiền cho ngân hàng phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức khác nhau. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ dư nợ trong khoảng thời gian quy định thì chủ thẻ được hoàn toàn miễn lãi, sau khi toàn bộ dư nợ được thanh toán thì hạn mức tín dụng của thẻ sẽ trở lại như lúc đầu.
Ở các ngân hàng hiện nay, khoảng thời gian miễn lãi thường thấy là 45 ngày. Nếu hết thời gian này mà toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán thì chủ thẻ sẽ chịu những khoản phí và lãi phạt chậm trả. Ngoài ra chủ thẻ có thể lựa chọn hình thức thanh toán tối thiểu rơi vào khoảng từ 2% - 5% của tổng dư nợ sau kì sao kê vào ngày đến hạn thanh toán nếu chưa có đủ điều kiện thanh toán toàn bộ dư nợ. Như đã đề cập, khi phát hành thẻ tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ dựa trên các căn cứ về khả năng tài chính để thẩm định và phê duyệt cấp cho chủ thẻ một hạn mức tiền nhất định để sử dụng, sau đó chủ thẻ sẽ hoàn trả gốc lãi cũng như chi phí khác theo thỏa thuận với ngân hàng.
Tuy nhiên điểm đặc biệt ở đây là, nếu thẻ tín dụng không phát sinh dư nợ tức là chủ thẻ không sử dụng thẻ thì quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ và tổ chức phát hành ra nó không được thành lập. Điều này chính là một trong những lợi thế khiến thẻ tín dụng 16 trở thành một trong những “sản phẩm” được ưa chuộng nhất của ngân hàng hiện nay. Qua phân tích trên, tác giả cho rằng, hoạt động phát hành thẻ tín dụng cũng là một hình thức cho vay hay nói cách khác là cấp tín dụng nhưng dưới cơ chế đặc biệt hơn so với các hình thức cho vay khác. Từ các đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại như sau: “Hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ cấp tín dụng mà theo đó, ngân hàng cam kết sẽ cấp cho chủ thẻ một hạn mức tiền nhất định dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng.
Quan hệ vay nợ chỉ xác lập khi thẻ phát sinh dư nợ và sau đó, chủ thẻ cam kết sẽ hoàn trả gốc lãi cũng như các khoản chi phí khác theo thoả thuận đã kí kết với ngân hàng.2 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Nghiệp vụ hành thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại là một hoạt động cho vay được xác lập thông qua hình thức pháp lý đó là Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng (hay Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Bởi vậy nó mang đầy đủ các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng là nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng cùng nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Các nguyên tắc này thể hiện ở việc mọi cá nhân hay pháp nhân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và đều được pháp luật bảo vệ như nhau. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của mình trên cơ sở tự nguyện cam kết, thỏa thuận, thiện chí, trung thực.