CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. MỐT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ MÓNG BÈ CỌC Móng bè cọc đã đư ợc sử dụng rộng rãi cho các công trình xây dựng bởi cả hai tính năng chịu lực và giảm độ lún của móng được cải thiện đáng kể so với móng cọc thông thường. Katzenbach et al. (2000) cho thấy nhiều ưu điểm của bè cọc và đưa ra một số ví dụ về các ứng dụng của bè cọc trên đất sét cứng.
Hiệu quả kinh tế của móng bè cọc cũng được trình bày bởi Randolph (1994), bên cạnh bộ phận chính là các cọc, thì bè có khả năng đóng góp một cách đáng kể khả năng chịu tải trọng của công trình. Rõ ràng các cọc phải được thiết kế sao cho khả năng chịu lực của nó là hoàn toàn huy động được khi tải làm việc. Có nhiều phương pháp được đề xuất để phân tích móng cọc đài bè. Horikoshi et al.
(1999) phát triển một phương pháp để tính toán giải quyết tổng thể của móng cọc đài bè. Và những nghiên cứu thêm của Poulos (2000) và Poulos (2001a, 2001b) với việc áp dụng phương trình Midlin c ủa bán không gian đàn hồi vào bài toán bè cọc và những thử nghiệm thực tế để phân tích ngược lại bài toán. Phương pháp phần tử hữu hạn ba chiều (3D-FEM) được áp dụng cho dự đoán của các ứng xử của bè cọc bởi Reul et al. Novak et al.
(2005), Ningombam Thoiba Singh et al. (2008), Phongpat Kitpayuck (2009) và JinHyung Lee et al. Máy gia tốc ly tâm được áp dụng thử nghiệm cho dự đoán của các ứng xử của hệ bè cọc được đề xuất bởi Horikoshi et al. (1996, 1998), Conte et al.
(2003) và Vincenzo Fioravante et al. Đề tài “ Phân tích và tính toán các ứng xử trong móng cọc đài bè ” tiếp tục hướng nghiên cứu bằng các phương pháp giải tích kết hợp sự hổ trợ của phần mềm phần tử hữu hạn (Safe v12) được sử dụng để phân tích và tính toán các ứng xử trong móng cọc đài bè. Qua đó giúp đọc giả có được cái nhìn cụ thể hơn, rõ ràng hơn và tổng quát hơn về phương án móng bè trên nền cọc, qua đó ứng dụng rộng rãi trong việc lựa chọn phương án móng hợp lý tính toán các công trình nhà cao tầng. KHÁI QUÁT MÓNG BÈ-CỌC 1.
Khái niệm Móng cọc đài bè hay còn đư ợc gọi là móng bè trên nền cọc bao gồm hai thành phần sau: Bè hay đài cọc có nhiệm vụ liên kết và phân phối tải trọng từ các chân kết cấu cho các cọc, đồng thời truyền một phần tải trọng xuống đất nền tại vị trí tiếp xúc giữa đáy bè và đất nền. Bè có thể làm dạng bản phẳng hoặc bản dầm nhằm tăng độ cứng chống uốn. Chiều dày tối thiểu của bè được xác định theo điều kiện bè bị chọc thủng do lực tập trung tại chân cột, chân vách, hay do phản lực cọc. Để điều chỉnh lún không đều có thể làm bè với chiều dày thay đổi.
Các cọc làm nhiệm vụ truyền tải trọng xuống nền đất tốt dưới chân cọc thông qua sức kháng mũi và vào nền đất xung quanh cọc thông qua sức kháng bên. Có thể bố trí cọc trong đài thành nhóm hay riêng rẽ, bố trí theo đường lối hay bố trí bất kỳ tuỳ thuộc vào mục đích của người thiết kế, nhằm điều chỉnh lún không đều, giảm áp lực lên nền ở đáy bè hay giảm nội lực trong bè… Hình 1.1 - Mô hình móng bè trên nền cọc 1. Ưu điểm của móng bè cọc Móng bè trên nền cọc có rất nhiều ưu điểm so với các loại móng khác, sở dĩ phải làm móng bè - cọc vì trư ờng hợp đất yếu rất dày, bố trí cọc theo đài đơn hay băng cọc không đủ. Cần phải bố trí cọc trên toàn bộ diện tích xây dựng mới mang đủ tải trọng của công trình, làm tăng kh ả năng chịu tải và giảm lún cho công trình.
Hơn nữa móng cọc đài bè sẽ làm tăng độ cứng tổng thể của nền móng bù đắp lại sự yếu kém của nền đất. Trong nhiều tài liệu tham khảo cho thấy tầm quan trọng chính là vấn đề khả năng mang tải trọng đứng, độ lún tổng, độ lún lệch. Nói chung những vấn đề này là những tiêu chí chính đánh giá trong tiêu chuẩn và cũng đư ợc xem xét đến trong đề tài này.2 - Các công trình cao tầng tại Frankfurt Trong việc đánh giá về tính tiện ích của việc sử dụng móng cọc đài bè, trước tiên cần phải đánh giá ước lượng qua quy phạm kỹ thuật khả năng mang tải đứng, tải ngang, giá trị độ lún tổng và độ lún lệch của móng bè độc lập không bố trí thêm cọc. Theo Burland 1995, Randolph 1994, nếu đánh giá riêng móng bè chỉ có khả năng mang tải đạt yêu cầu mức độ nhỏ, giống như chỉ thiết kế móng bè lý thuyết qui phạm, còn cọc được tính toán chịu hầu hết tải trọng công trình.
Như vậy nhiệm vụ đơn thuần của bè chỉ tác dụng giảm bớt một phần rất nhỏ khả năng chịu tải cho cọc. Song nếu đánh giá chỉ riêng bè đã v ừa đủ hoặc thừa đủ khả năng mang tải, nhưng không thỏa mãn độ lún tổng hoặc độ lún lệch cho phép, như vậy khả năng phải xem xét việc bố trí thêm cọc để cọc giữ vai trò giảm bớt lún cho bè.3 - Quan hệ tải trọng và độ lún trong trường hợp móng bè có cọc và không có cọc. Cơ chế làm việc của móng bè cọc Cơ chế làm việc móng cọc đài bè: đặc điểm nổi bật của móng cọc đài bè là sự ảnh hưởng tương hỗ giữa đất và kết cấu móng được thể hiện rõ ở hình 1.4 bên dưới, theo bốn ảnh hưởng sau: - Sự tương tác giữa cọc và đất; - Sự tương tác giữa cọc và cọc; - Sự tương tác giữa đất và móng bè; - Sự tương tác giữa cọc và móng bè.4 - Sự tương tác lẩn nhau giửa đất, bè và cọc (Katzenbach et al., 2000) Sơ đồ tính toán móng cọc đài bè: Móng bè được mô hình bằng phần tử dầm hoặc bằng phần tử tấm hoặc cả hai. Móng bè liên kết với các lò xo tư ợng trưng cho cọc và cho đất tại các điểm nút.
Các lò xo tư ợng trưng cho cọc và đất có kể đến ảnh hưởng tương hỗ giữa bè, đất và cọc. CÁC QUAN ĐIỂM TÍNH TOÁN MÓNG BÈ-CỌC 1. Quan điểm cọc chịu tải hoàn toàn Tại nước ta, trong thực hành thiết kế móng cọc đài bè, thường quan niệm toàn bộ tải trọng công trình do các cọc tiếp nhận. Đóng góp của phần đất dưới đáy bè thường bị bỏ qua, kể cả khi đáy đài tiếp xúc với đất nền tốt.
Theo quan niệm này, các cọc được thiết kế như một nhóm cọc để tiếp nhận hoàn toàn tải trọng của công trình mà không kể đến sự tham gia chịu tải của nền đất xung quanh dưới đáy bè. Trong tính toán, hệ móng bè cònđ ược tính như móng cọc đài thấp với nhiều giả thuyết gần đúng như: - Tải trọng ngang do nền đất trên đáy đài tiếp nhận. - Đài móng tuyệt đối cứng, ngàm cứng với các cọc và chỉ truyền tải trọng lên các cọc. Do đó, cọc chỉ có chịu kéo hoặc chịu kéo.
- Cọc trong nhóm cọc làm việc như cọc đơn và chịu toàn bộ tải trọng tiếp nhận từ đài móng. - Khi tính toán tổng thể móng cọc thì xem hệ móng là một khối móng quy ước. Quan điểm trên có thể áp dụng khi thiết kế những nhóm cọc nhỏ, có kích thước đáy đài không đáng kể so với chiều dài cọc. Vì khi ấy vùng ứng suất tăng thêm trong nền do áp lực đáy đài gây ra nhỏ, ít ảnh hưởng đến sự làm việc của các cọc.
Tuy nhiên, nếu bỏ qua sự làm việc của bè khi thiết kế móng cọc đài bè (có kích thước đáy đài đáng kể so với chiều dài cọc) sẽ dẫn đến sự mô tả không đúng sự phân phối tải trọng lên các cọc và độ lún của móng. Tính toán theo quan điểm này có ưu điểm là đơn giản, thiên về an toàn và được hướng dẫn chi tiết trong các tài liệu về nền móng công trình hiện nay. Độ lún của móng tính theo phương pháp này cho kết quả lớn, vì thế sử dụng nhiều cọc và có thường có hệ số an toàn cao, chưa phát huy được hết sức chịu tải của kết cấu. Như vậy, ta thấy đây là quan điểm thiết kế rất thiên về an toàn, vì thực tế đài có tiếp nhận và truyền một phần tải trọng xuống đất nền.
Quan điểm bè chịu tải hoàn toàn Bè được thiết kế để chịu phần lớn tải trọng lên móng. Các cọc chỉ tiếp nhận một phần nhỏ của tổng tải trọng, được bố trí hợp lý với mục đích chính là giảm độ lún lệch cho công trình. Trường hợp thiết kế chỉ sử dụng móng bè để chịu tải trọng công trình mà không thỏa mãn yêu cầu bền vững hoặc biến dạng đất nền lún nhiều [9] hoặc lún chênh lệch quá lớn, thì đòi hỏi thiết kế phải bố trí tăng cường thêm cọc để giảm lún cho móng bè. Để tận dụng khả năng mang tải móng bè với độ lún tổng và độ lún lệch đạt đến giới hạn thì tại vị trí móng bè bị lún quá giới hạn phải bố trí thêm cọc với số lượng giới hạn tối thiểu.
Quan điểm bè - cọc đồng thời chịu tải Theo quan điểm này, hệ kết cấu móng bè - cọc đồng thời làm việc với đất nền theo một thể thống nhất, xét đến đầy đủ sự tương tác giữa các yếu tố đất - bè - cọc. Ở đây, các cọc ngoài tác dụng giảm lún cho công trình, còn phát huy hết được khả năng chịu tải, do đó cần ít cọc hơn, chiều dài cọc nhỏ hơn. Khi cọc đã phát huy hết khả năng chịu tải, thì một phần tải trọng còn lại sẽ do phần đất bên dưới bè (xung quanh cọc) gánh chịu và làm việc như móng bè trên nền thiên nhiên. Trong quan điểm này, độ lún của công trình thư ờng lớn hơn so với quan điểm cọc chịu tải hoàn toàn nhưng về tổng thể, nó vẫn đảm bảo nằm trong quy định với một hệ số an toàn hợp lý, do đó quan điểm tính toán này cho hiệu quả kinh tế tốt hơn so với quan điểm đầu.
Tuy nhiên, quá trình tính toán cần sử dụng các mô hình phức tạp hơn, do đó hiện nay quan điểm này chưa được phổ biến rộng rãi.