Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh Đăk Lăk Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - – qua các tiêu chí về 4 “Mở rộng cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” của tác giả Lê Thị Thu Hà, luận văn đƣợc thực hiện năm 2009 tại trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã trình bày các hình thức cho vay tiêu dùng chủ yếu của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Thông qua việc phân tích thực trạng quy trình cho vay tiêu dùng, thực trạng vận dụng quy chế đảm bảo tiền vay, phân tích các sản phẩm cho vay tiêu dùng trên địa bàn, phân tích tâm lý ngƣời dân. Tác giả nêu ra các mặt mạnh và hạn chế, nguyên nhân. Từ đó làm cơ sở cho việc tìm kiếm các giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng một cách có hiệu quả. – – – C – – 5 – – – 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thƣơng mại tạo lợi ích cho ngƣời gửi tiền, ngƣời vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu đƣợc lợi nhuận cho ngân hàng.
Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Ở Việ ổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiề Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định 7 chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại - Nghiệp vụ huy động vốn: Để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, ngoài nguồn vốn của bản thân mình, các NHTM tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dƣới các hình thức khác nhau, bao gồm: + Nguồn tiền gửi: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vƣợng và phát triển của ngân hàng, là cơ sở của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với rất nhiều mục đích khác nhau hoặc để tiết kiệm hoặc để thanh toán, tuỳ theo mục đích của khách hàng ngân hàng có các hình thức huy động nhƣ: tiền gửi giao dịch, tiền gửi phi giao dịch. Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay các lệnh rút tiền của khách hàng. Đây là một trong những nguồn vốn biến động nhất, kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể đƣợc rút ra bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trƣớc.
Tiền gửi giao dịch gồm tiền gửi có thể phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi… Tiền gửi phi giao dịch là loại tiền đƣợc hình thành từ nguồn vốn của những ngƣời muốn dành một khoản tiền cho những mục tiêu hay nhu cầu tài chính đƣợc dự tính trƣớc trong tƣơng lai. Lãi suất của loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch. + Huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, tiết kiệm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi … + Nguồn vay NHTW, các tổ chức tín dụng khác : NHTW là ngân hàng 8 của các ngân hàng, là ngƣời cho vay cuối cùng của các tổ chức tín dụng trong trƣờng hợp họ không có đủ khả năng thanh toán. Trong trƣờng hợp này các NHTM vay tiền để bù đắp thiếu hụt, đảm bảo khả năng thanh khoản trong trƣờng hợp cần thiết.
Việc huy động vốn một cách hợp lý, với chi phí và cơ cấu phù hợp sẽ góp phần không nhỏ vào hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng. - Nghiệp vụ sử dụng vốn: Trên cơ sở lƣợng vốn huy động đƣợc, NHTM tiến hành sử dụng vốn để tạo ra lợi nhuận. Nghiệp vụ cho vay và đầu tƣ là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Các hoạt động sử dụng vốn bao gồm: Dự trữ Cấp tín dụng Đầu tƣ Các hoạt động khác + Dự trữ: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải đảm bảo an toàn để giữ vững đƣợc lòng tin của khách hàng.
Muốn có đƣợc sự tin cậy về phía khách hàng, trƣớc hết phải đảm bảo khả năng thanh toán: Đáp ứng đƣợc nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy, các Ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ. NHTW đƣợc phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định.
Dự trữ bao gồm: Dự trữ sơ cấp: Bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHTW, tại các ngân hàng khác. Dự trữ thứ cấp: Dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách 9 thuận lợi. Thuộc loại này bao gồm: Tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận, các giấy nợ ngắn hạn khác…Dự trữ thứ cấp chỉ đƣợc sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt. + Cấp tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân.
Các hoạt động cấp tín dụng bao gồm: Cho vay: Là nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Trong đó, NHTM sẽ cho ngƣời đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tƣ hoặc tiêu dùng trong một khoảng thời gian thỏa thuận trƣớc. Khách hàng muốn vay đƣợc vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những ràng buộc pháp lý để đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi vốn khi đến hạn. Ngƣời đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng vốn có hiệu quả để hoàn trả nợ vay.
Các khoản cho vay là loại tài sản kém lỏng hơn các loại tài sản khác, lại có rủi ro vỡ nợ cao hơn, tuy nhiên, Ngân hàng lại có đƣợc lợi tức cao nhất từ chính các món cho vay. Để đảm bảo hoạt động cho vay của Ngân hàng an toàn và đạt hiệu quả cao, khi cho vay các Ngân hàng sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay nhƣ: Thế chấp, cầm cố… Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp, ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Các loại chiết khấu bao gồm: Hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác. Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn.
Trong đó, Ngân hàng dùng vốn của mình hay vốn do phát hành triếu phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của ngƣời đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Bảo lãnh ngân hàng: Trong loại hình nghiệp vụ này, khách hàng đƣợc Ngân hàng cấp bảo lãnh đƣợc vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiền hợp 10 đồng kinh tế đã đƣợc ký kết… + Đầu tƣ: Hoạt động đầu tƣ có vị trí quan trọng thứ hai sau hoạt động cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho NHTM. Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tƣ dƣới các hình thức nhƣ: Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ đƣợc phép thực hiện bằng vốn của Ngân hàng Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phƣơng, trái phiếu công ty… Tất cả hoạt động đầu tƣ chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập cho Ngân hàng. Mặt khác, nhờ hoạt động đầu tƣ mà các rủi ro trong hoạt động Ngân hàng sẽ đƣợc phân tán.
Ngoài ra, khi đầu tƣ vào trái phiếu chính phủ thì rủi ro sẽ thấp. Khi cần thiết, Ngân hàng có thể bán chúng đi để gia tăng ngân quỹ. Các NHTM cũng thƣờng nắm giữ chứng khoán công ty để có quyền tham dự, kiểm soát các công ty đó. + Các hoạt động sử dụng vốn khác: Các hoạt động sử dụng vốn còn lại mà NHTM đƣợc phép thực hiện là: Liên doanh với tổ chức tín dụng nƣớc ngoài, tham gia thị trƣờng tiền tệ, kinh doanh vàng, ngoại hối, thành lập công ty trực thuộc, xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phƣơng tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…Tuy nhiên, các hoạt động này của Ngân hàng mang tính chất nhạy cảm, có tác động đến mọi mặt của nền kinh tế, do đó, chịu sự quản lý rất chặt chẽ của pháp luật.