CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN 1. Khái niệm về tín dụng ngắn hạn ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một giao dịch bất động sản giữa người cho vay và người đi vay, trong đó người cho vay ủy quyền cho người vay sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian cụ thể đã được thỏa thuận. Người đi vay có trách nhiệm hoàn trả khoản vay.
Anh ta sẽ trả cho người cho vay tiền gốc và lãi vô điều kiện khi đến hạn thanh toán. Mối quan hệ kinh doanh này được thể hiện bởi: Người cho vay chuyển một lượng giá trị nhất định cho người đi vay dưới hình thức tiền hoặc hiện vật. Người vay chỉ được phép sử dụng tạm thời giá trị chuyển nhượng trong một khoảng thời gian xác định. Khi hết thời gian sử dụng hữu ích, người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả cho người cho vay một số tiền vượt quá giá trị ban đầu của nó.
Số tiền dôi ra gọi là lãi vay. Theo nghĩa rộng hơn, quan hệ tín dụng chỉ hoạt động huy động và cho vay vốn của ngân hàng, với việc ngân hàng đóng vai trò trung gian để “vay và cho vay”. Khái niệm về tín dụng ngắn hạn Theo Nghị quyết 324 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tài trợ ngắn hạn là hình thức cấp vốn ngắn hạn của tổ chức tài chính cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Thời hạn cho vay ngắn hạn được thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng tối đa là 12 tháng và phụ thuộc vào tình hình sản xuất, chu kỳ kinh tế và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khái niệm về nợ Dư nợ Dư nợ có nghĩa là số tiền mà Khách hàng còn nợ Ngân hàng và bao gồm: Nợ đến hạn, nợ hoãn điều chỉnh, nợ quá hạn trong một khoảng thời gian xác định. Tín dụng luôn là tài sản sinh lãi lớn và quan trọng đối với các ngân hàng thương mại. Nợ quá hạn Nợ quá hạn là số tiền gốc và lãi chưa trả cho ngân hàng khi hết thời hạn của hợp đồng vay mà khách hàng không yêu cầu gia hạn hoặc trả nợ với lý do chính đáng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng số khoản vay khiến ngân hàng gặp nhiều rủi ro tín dụng và giảm doanh thu.
Doanh số cho vay Doanh số cho vay là doanh số cho vay của ngân hàng thương mại. Các khoản cho vay này được thiết kế nhằm đảm bảo nguồn vốn vay của khách hàng được sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích, giúp ngân hàng thu hồi được nợ gốc và lãi, doanh nghiệp trang trải được các khoản nợ, bù đắp chi phí và có lãi. Nó có chất lượng cao nếu nó mang lại càng nhiều tiền càng tốt. Doanh số thu nợ Vòng quay thu nợ là một số liệu phản ánh tất cả các khoản vay mà ngân hàng thu được khi đáo hạn tại một thời điểm nhất định.
Kỳ hạn trả nợ hợp nhất Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ Được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ của khách hàng vì tổ chức tín dụng có cơ sở hợp lý để đánh giá khả năng trả nợ đầy đủ gốc và lãi của khách hàng trên cơ sở điều chỉnh lại thời hạn trả nợ. Căn cứ Điều 10 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 về Phân loại nợ: 5 - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Dự kiến khoản nợ sẽ đến hạn và cả gốc lẫn lãi sẽ được thu đầy đủ đúng hạn. Khoản nợ trả chậm dưới 10 ngày được coi là đủ điều kiện thu hồi đủ nợ gốc và lãi quá hạn và thu đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi, nhưng có dấu hiệu KH suy giảm khả năng trả nợ; nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ trong hạn theo thời gian nợ đã cơ cấu lại.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá không có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đáo hạn. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi; nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn nhỏ hơn 90 ngày đã cơ cấu lại. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao; các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn 90 đến 180 ngày theo thời gian cơ cấu lại. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi , mất vốn; các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời gian cơ cấu lại.
Nợ xấu 6 Đây là các khoản phải thu Nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ các khoản phải thu không có khả năng thu hồi so với dư nợ cho vay là thước đo mức độ tín nhiệm của các tổ chức tài chính. Đặc trưng tín dụng ngắn hạn Đây là một hình thức cho vay ngân hàng thương mại lâu đời và có truyền thống chiếm phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng thương mại. Đối tượng và hình thức cấp tín dụng rất đa dạng bao gồm chính phủ, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Vì vậy, các hình thức tín dụng rất đa dạng và phong phú. Tùy theo đối tượng và mục đích vay vốn mà các ngân hàng thương mại có thể xác định phương thức tài trợ thích hợp. Tín dụng ngắn hạn liên quan đến chu kỳ tài chính và nhu cầu vốn mang tính thời vụ của doanh nghiệp, còn tín dụng ngắn hạn phụ thuộc vào tình hình phát triển vốn lưu động của doanh nghiệp nên thời gian tích lũy vốn ngắn. Dựa vào đặc điểm này, các ngân hàng thương mại thường ấn định thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng để đảm bảo có kế hoạch quản lý nợ và cơ cấu tín dụng phù hợp.
Vai trò của tín dụng ngắn hạn Cho vay ngắn hạn làm tăng nguồn vốn nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển. Các ngân hàng, với tư cách là trung gian tài chính, thực hiện một trong những nhiệm vụ chính của mình là huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và cung cấp cho nền kinh tế. “Vay vốn ngân hàng đã giúp doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ ổn định sản xuất kinh doanh mà còn mở rộng hoạt động kinh doanh.” Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn là yếu tố khó khăn nhất trong quá trình sản xuất và hoạt động của doanh nghiệp, tình trạng thiếu vốn giữa các doanh 7 nghiệp diễn ra phổ biến và nghiêm trọng. Do tính linh hoạt của chúng, các khoản vay ngắn hạn là hình thức hoàn hảo để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc khai thác vốn tạm thời nhàn rỗi của công ty.
Tín dụng ngắn hạn không chỉ là nguồn tài trợ ngắn hạn mà ngày càng trở thành nguồn tài trợ quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi công ty. Thiếu tín dụng giúp doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ kinh doanh, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, luân chuyển vốn thông suốt, nâng cao hiệu quả huy động vốn toàn xã hội. Mở rộng sản xuất kinh doanh, cập nhật thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Để một công ty thành công trong hoạt động đầu tư, không chỉ cần có vốn lưu động ngắn hạn mà còn phải nắm giữ một lượng vốn ổn định nhất định trong dài hạn.
Mức vốn đầu tư để đáp ứng các nhu cầu trên không vượt quá khả năng về vốn của công ty. Các khoản vay ngắn hạn giúp các doanh nhân đáp ứng nhu cầu tài chính để đầu tư và mở rộng kinh doanh. Cho vay ngắn hạn giúp doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả. Thực chất của các khoản vay ngân hàng không phải là thu hồi vốn gốc mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Vì vậy, sau khi sử dụng vốn ngắn hạn vào sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ thu hồi vốn mà còn sử dụng vốn có hiệu quả, duy trì và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, đạt tỷ suất lợi nhuận theo lãi suất cao hơn thì cần có thêm nhiều giải pháp để thực hiện điều đó. Các ngân hàng và công ty có tiền đề trả tiền gốc và thu lãi. Đối với ngân hàng, việc thu hồi được vốn vay hay không phụ thuộc rất lớn vào tình hình phát triển kinh doanh của công ty đi vay. Vì vậy, kế hoạch kinh doanh của một công ty cần được xem xét và đánh giá cẩn thận trước khi cho ngân hàng vay.
Ngân hàng sẽ ưu tiên cho vay đối với các công ty có kế hoạch kinh doanh và đang tạo ra đủ lợi nhuận để trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, các công ty tìm kiếm nguồn vốn ngân hàng cần nhanh chóng cải thiện năng lực sản xuất và quản lý để đảm bảo hoạt động 8 hiệu quả. Ngoài ra, trong thời gian TƯLĐTT còn hiệu lực sẽ thực hiện quy trình kiểm tra, kiểm soát, giám sát trong và sau khi cho vay, qua đó ngân hàng sẽ kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn của doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ các cam kết tài chính. cho doanh nghiệp.
Lực lượng như Chúng tôi hợp đồng sử dụng vốn đúng mục đích và đạt hiệu quả cao nhất. Một yếu tố nữa là ngân hàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn trong phạm vi của mình, tư vấn cho doanh nghiệp các vấn đề liên quan, thành lập công ty, bởi lợi ích của ngân hàng luôn gắn bó chặt chẽ với lợi ích của khách hàng, chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngắn hạn có tác dụng tích cực đến tốc độ phát triển và thúc đẩy cạnh tranh.