ĐẶT VẤN ĐỀ Tâm thần phân liệt (TTPL) là bệnh loạn thần nặng tiến triển, có khuynh hướng mạn tính, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong. Tình cảm trở nên khô lạnh dần, khả năng làm việc, học tập ngày càng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu [24]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh TTPL ở các khu vực khác nhau trên thế giới khoảng 0,5 - 1,5% dân số. Tuy tỷ lệ mắc bệnh không cao nhưng bệnh thường gây ra hậu quả nghiêm trọng như mất khả năng học tập và lao động, mất khả năng tham gia các hoạt động xã hội, không tự nuôi sống hoặc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [11].
Để điều trị bệnh TTPL cần kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau như: Liệu pháp tâm lý, liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội, liệu pháp hóa dược và liệu pháp sốc điện. Trong đó liệu pháp hóa dược đóng vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn cấp tính [17]. Hiện nay nguyên nhân gây bệnh TTPL chưa xác định rõ ràng nên việc điều trị chủ yếu vẫn là điều trị triệu chứng. Trong đó thuốc an thần kinh (ATK) là nền tảng của điều trị và thường làm giảm hoặc mất các triệu chứng dương tính của TTPL như hoang tưởng, ảo giác và các rối loạn tâm thần vận động.
Tuy nhiên việc sử dụng các thuốc ATK thường xuất hiện rất nhiều các tác dụng không mong muốn như kháng cholinergic, kháng adrenergic, tác dụng trên chuyển hóa, tim mạch, …[21]. Theo thống kê tại khoa Dược Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang, số lượng thuốc an thần kinh từ năm 2020 đến năm 2021 chiếm khoảng 72% tổng số lượng các thuốc chuyên khoa tâm thần đang sử dụng tại Bệnh viện. Theo bảng phân loại bệnh lần thứ 10 của tổ chức y tế thế giới về rối loạn tâm thần và hành vi (ICD-10), bệnh TTPL được chia ra làm 8 thể (từ F20. Theo khuyến của Hiệp hội tâm thần Hoa kỳ 2012, liệu pháp được ưu tiên trong điều trị bệnh TTPL là đơn trị liệu bằng thuốc ATK, tuy nhiên, qua bệnh án tại các khoa 1 lâm sàng cho thấy, có nhiều đơn thuốc vẫn thường hay kết hợp 2 hay 3 thuốc ATK với nhau trong điều trị bệnh TTPL.
Với mong muốn phân tích được tình hình thực tế sử dụng thuốc ATK trong điều trị bệnh TTPL tại bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang, cung cấp thêm thông tin cho Hội đồng thuốc và điều trị, các bác sĩ lâm sàng, dược sĩ bệnh viện về các liệu pháp điều trị bệnh TTPL bằng các thuốc ATK và tính an toàn khi sử dụng phối hợp, góp phần vào việc xây dựng hướng dẫn điều trị bệnh TTPL tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới. Từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các thuốc tâm thần cho người bệnh, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc an thần kinh trong điều trị tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang”, với hai mục tiêu chính: 1. Khảo sát một số đặc điểm của bệnh nhân tâm thần phân liệt và tình hình sử dụng thuốc ATK trong điều trị bệnh TTPL tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang. Phân tích cặp tương tác thuốc tiềm tàng bất lợi và kiến thức, thái độ của bác sỹ về cặp TTT trong điều trị TTPL tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang.
TỔNG QUAN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT 1. Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL) - Schizophrenia, nhưng tựu chung, TTPL là một trong những bệnh rối loạn tâm thần nặng, tiến triển từ từ và có khuynh hướng mạn tính, ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cảm giác và hành vi của người bệnh [21]. Người mắc bệnh TTPL có xu hướng tách biệt với cuộc sống bên ngoài, dần xa lánh người thân, thu vào thế giới bên trong. Tình cảm trở nên khô lạnh, hay trầm tư, lo âu, sợ hãi hoặc giận dữ, dẫn đến những ý nghĩ, hành vi thiếu kiểm soát, mất dần khả năng lao động, sinh hoạt, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
TTPL là bệnh khá phổ biến trên thế giới. Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi từ khoảng 18- 40 tuổi và có thể kéo dài suốt cuộc đời [17]. Tỷ lệ mặc TTPL ở nam giới cao hơn gấp 1,4 lần so với nữ giới. Nhóm tuổi có tỷ lệ khởi phát cao nhất ở nam giới là 20- 28 tuổi và nữ giới là 26- 32 tuổi.
Bệnh hiếm khi khởi phát trước 10 tuổi và sau 60 tuổi. Đây được coi là căn bệnh nguy hiểm và cần được quan tâm, chữa trị kịp thời [17]. Cơ chế bệnh sinh Giống như định nghĩa về bệnh TTPL, các quan niệm về bệnh sinh TTPL cũng rất khác nhau và chưa có một giả thuyết nào có thể giải thích được cách khởi phát cũng như các triệu chứng lâm sàng của bệnh. Quan niệm hiện nay cho rằng, nguyên nhân gây bệnh TTPL có thể là do di truyền, các yếu tố sinh học, tâm lý hay văn hóa, xã hội… [8] 1.
Giả thuyết về di truyền: Vấn đề di truyền trong TTPL là rõ ràng, một số nghiên cứu về gia đình cho thấy, nếu trong gia đình có một người bị TTPL thì những thành viên khác trong suốt cuộc đời có nguy cơ bị TTPL là 10% và trẻ em có bố hoặc mẹ bị TTPL thì nguy cơ bị TTPL là 5-6%. Quan niệm di truyền đa gen được nhiều nhà khoa học thừa nhận hơn và cho rằng sự tổ hợp nhiều gen quyết định tính di truyền của bệnh TTPL. Các gen gây bệnh nằm ở các nhiễm sắc thể số 6, 8, 10, 13 và 22. Các gen di truyền kết hợp 3 với yếu tố môi trường thuận lợi gây ra bệnh TTPL.
Tuy nhiên, vẫn rất khó để giải thích được yếu tố nào đóng vai trò quyết định [8]. Giả thuyết về sinh học. Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học khẳng định có sự bất thường trong cấu trúc của nhiều vùng não khác nhau ở bệnh nhân TTPL. Các cấu trúc bất thường trong não có thể biểu hiện như giãn rộng các não thất bên, giảm kích thước vùng đồi thị, bất thường kích thước vùng đồi hải mã, bất thường trong cấu trúc tế bào ở vùng trước trán [8].
Một số giả thuyết khác cho rằng rối loạn chuyển hóa dopamin hay những bất thường của hệ thống dẫn truyền glutamate có thể là nguyên nhân bệnh sinh của TTPL[21]. Giả thuyết về tâm lý, xã hội, văn hóa Test tâm lý cho thấy có sự bất thường rõ rệt ở người bệnh TTPL và cả ở một số người họ hàng chưa có biểu hiện lâm sàng của TTPL. Tuy nhiên, giả thuyết tác động qua lại trong gia đình là yếu tố bệnh sinh quan trọng của bệnh TTPL đã bị phủ nhận do việc tăng nhanh các dữ liệu sinh học của TTPL. Một giả thuyết khác được đưa ra đó là yếu tố kinh tế cũng có liên quan đến bệnh TTPL do có ảnh hưởng đến các yếu tố về: dinh dưỡng, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe tâm thần [24] 1.
Theo quan điểm cổ điển, biểu hiện lâm sàng bệnh TTPL bao gồm các triệu chứng âm tính và dương tính [21]. Các triệu chứng âm tính Triệu chứng âm tính của TTPL rất hay gặp và là nền tảng của bệnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, các triệu chứng này rất kín đáo, khó phát hiện. Sau một vài năm mắc bệnh, các triệu chứng này ngày càng rõ ràng và đến giai đoạn di chứng, bệnh nhân chỉ còn các triệu chứng âm tính[21].
Có 3 triệu chứng trong tâm thần phân liệt, đó là: - Tính thiếu hoà hợp: thể hiện ở thiếu hòa hợp trong tư duy như rối loạn quá trình liên tưởng, lý luận xa rời thực tế, sáng tạo ra những khái niệm, ngôn ngữ mới; thiếu hòa hợp trong cảm xúc như thay đổi tình cảm với người thân, cảm xúc trái ngược, lạ 4 lùng và thiếu hòa hợp trong hành vi, tác phong, thường có những hành động bột phát, khó hiểu, lố lăng [21]. - Tính tự kỷ: Có liên quan chặt chẽ với tính thiếu hòa hợp, hậu quả của tính thiếu hòa hợp. Một số triệu chứng vừa mang tính thiếu hòa hợp vừa mang tính tự kỷ, khó tách rời hai tính chất ấy ra. Thiếu hòa hợp đến một mức độ cao thì mang tính chất tự kỷ.
Tính thiếu hòa hợp và tính tự kỷ chỉ là hai mặt của một quá trình phân liệt [21]. - Thế năng tâm thần giảm sút: Thế năng tâm thần là năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động tâm thần, biểu hiện bằng lòng nhiệt tình, tính năng động, tính linh hoạt và sáng tạo. Thế năng tâm thần bị giảm sút thể hiện bằng cảm xúc hàng ngày khô lạnh, bệnh nhân trở lên bàng quan, vô cảm xúc; tư duy nghèo nàn cứng nhắc, bệnh nhân học tập ngày càng sút kém, thói quen nghề nghiệp cũ tan biến dần. Ý chí ngày càng suy đồi, bệnh nhân không thiết làm gì thậm chí cả vệ sinh cơ thể [21].
Các triệu chứng dương tính: Các triệu chứng dương tính thể hiện những biến đổi bệnh lý phong phú. Các triệu chứng này có thể xuất hiện riêng lẻ nhưng cũng có thể kết hợp với nhau thành những hội chứng như hội chứng về cảm xúc, hội chứng paranoia, hội chứng paranoid, hội chứng căng trương lực…. - Rối loạn hình thức tư duy [17]: + Tư duy phi tán: quá trình liên tưởng của BN rất nhanh, các ý tưởng xuất hiện nối tiếp nhau nhưng nội dung nông cạn, chủ đề luôn thay đổi. + Tư duy dồn dập: trong đầu BN xuất hiện dồn dập đủ mọi ý nghĩ ngoài ý muốn của BN.
- Rối loạn nội dung tư duy [17]: + Hoang tưởng là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân TTPL. Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, phong phú. Hoang tưởng hay gặp là hoang tưởng bị chi phối. Đây là hoang tưởng đặc trưng của TTPL; các loại khác như hoang tưởng bị hại, hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng phát minh, hoang tưởng được yêu, hoang tưởng kỳ quái cũng thường gặp.
- Các rối loạn tri giác: chủ yếu là các ảo giác bao gồm: 5 + Ảo thanh: Người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các bộ phận trên cơ thể. Ảo thanh độc thoại như bệnh nhân nghe thấy giọng nói của chính mình trò chuyện trong đầu, ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân. Đây là những ảo thanh khá điển hình trong bệnh TTPL.