Chương 1 Tổng quan Chương này trình bày tổng quan về các vấn đề nghiên cứu trong luận văn, bao gồm: phân tích quan điểm, phân tích quan điểm theo khía cạnh và các cách tiếp cận để giải quyết bài toán này. Cuối chương, chúng tôi nêu ra vấn đề luận văn sẽ tập trung giải quyết.1 Phân tích quan điểm 1.1 Giới thiệu Trong thực tế, thông tin dạng văn bản có thể chia làm hai loại chính: Sự kiện (facts) và quan điểm (opinions). Sự kiện là những biểu hiện khách quan về các thực thể trong thế giới thực. Ví dụ, “Hôm qua, tôi đã đến một khách sạn”.
Trong khi đó, quan điểm là các ý kiến chủ quan mô tả sự đánh giá và tình cảm của con người đối với các thực thể. Ví dụ, “Khách sạn này có thiết kế rất đẹp”. Quan điểm có vai trò rất quan trọng, bởi khi cần quyết định một vấn đề nào đó chúng ta thường đặt ra câu hỏi “Mọi người nghĩ về vấn đề đó như thế nào?”. Chẳng hạn khi bạn muốn đặt một khách sạn để đi du lịch, bạn sẽ hỏi bạn bè “Khách sạn đó có đẹp hay không?, “Dịch vụ khách sạn đó thế nào”.
Như vậy quan điểm của người khác giúp chúng ta có thêm thông tin khi quyết định một vấn đề. Ý kiến phản hồi của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ trực tuyến trên mạng Internet là nguồn thông tin quan trọng đối với các doanh nghiệp. Bởi vì nó 3 giúp họ hiểu được điểm mạnh, điểm yếu trong sản phẩm, dịch vụ của mình, đồng thời nhanh chóng nắm bắt được tâm lý và nhu cầu khách hàng để mang đến cho họ sản phẩm, dịch vụ tốt hơn. Tuy nhiên với số lượng ý kiến rất lớn và cập nhật liên tục sẽ nảy sinh nhu cầu xây dựng một hệ thống tự động để phân tích quan điểm.
Phân tích quan điểm giúp các công ty, doanh nghiệp biết được ý kiến, quan điểm của một bộ phận người quan tâm về vấn đề của công ty, doanh nghiệp, từ đó họ có thể đề ra các chiến lược phát triển mới. BoPang và Lillian Lee [23] đã chứng minh vai trò quan trọng của phân tích quan điểm. Các tác giả đã thực hiện cuộc điều tra vào năm 2006 với 2500 thanh niên Mỹ về hoạt động sử dụng Internet. Kết quả cho thấy 27% để tìm kiếm online, 28% hoạt động trực tuyến để tham gia các hoạt động cộng đồng mạng, 28% sử dụng để chia sẻ quan điểm và 8% để bình luận chính trị.
Như vậy, ta thấy tỉ lệ người sử dụng Internet để chia sẻ quan điểm rất lớn, đó là kho giá trị giàu thông tin cần có cho một hệ thống phân tích quan điểm. Ở Việt Nam, con số những người sử dụng Internet ngày càng lớn, theo thống kê của trung tâm Internet Việt Nam VNNIC (Vietnam Network Information Center), tính đến năm 2015, số người sử dụng Internet ở Việt Nam chiếm 44% số dân của cả nước. Cùng với sự phát triển của mạng xã hội, blog ngày càng nhiều các thông tin cá nhân, quan điểm cá nhân được đưa lên Internet, tạo kho dữ liệu lớn cho khai phá và tổng hợp quan điểm. Đây là một lợi thế nhưng cũng là một thách thức cho bài toán phân tích quan điểm.1: Minh họa nhận xét của người dùng 4 1.2 Một số khái niệm Đối tượng (object): Dùng để chỉ thực thể (người, sản phẩm, sự kiện, chủ đề,.) được đánh giá.
Mỗi đối tượng có một tập các thành phần (components) hay thuộc tính (atributes), gọi chung là các đặc trưng (features). Mỗi thành phần hay thuộc tính lại có một tập các thành phần con hay thuộc tính con. Như vậy, một đối tượng O được biểu diễn bởi một cặp (T,A): – T là cấu trúc phân cấp thành phần cha – thành phần con; – A là tập các thuộc tính của đối tượng O. Ví dụ, một khách sạn có một tập các thành phần: giá phòng, phòng, vị trí, nhân viên,.
và các thuộc tính: đắt, rẻ, đẹp, xấu, thân thiện,. Trong đó, thành phần giá cả có thuộc tính con đắt, rẻ,. Các đặc trưng hiện và ẩn: Với mỗi một đánh giá d bao gồm một tập các câu d = {s1 , s2 ,. Nếu đặc trưng f xuất hiện trong d, ta nói f là đặc trưng hiện (explicit feature).
Ngược lại, ta nói, f là đặc trưng ẩn (implicit feature). Ví dụ, “ Dịch vụ khách sạn này có giá cả rất đắt”: Đặc trưng “dịch vụ” là đặc trưng hiện. “Phòng khách sạn này quá nhỏ”: đặc trưng “kích cỡ” là đặc trưng ẩn. Quan điểm hiện, ẩn: Quan điểm hiện (explicit opinion) là quan điểm tường minh về một đặc trưng f là một câu thể hiện quan điểm mang tính chủ quan, diễn tả trực tiếp quan điểm tích cực hay tiêu cực của tác giả.
Quan điểm ẩn (implicit opinion) về một đặc trưng f là câu thể hiện quan điểm tích cực, tiêu cực một cách không tường minh (hàm ý, ẩn ý). Ví dụ, “Khách sạn này rất đẹp” – Quan điểm hiện. “Khách sạn này không được đẹp cho lắm” – Quan điểm ẩn. Người đánh giá (opinion header): Là người hay tổ chức cụ thể đưa ra lời đánh giá.
Với các đánh giá trên forum, blogs,. người đánh giá chính là các tác giả của bài đánh giá đó. Trong phạm vi đề tài này, du khách là người đánh giá về sản phẩm du lịch. Đoạn đánh giá (opinion passage) về một đặc trưng: Đoạn đánh giá về một đặc trưng f của đối tượng O trong d là một tập các câu liên tiếp trong d 5 diễn tả quan điểm tích cực hay tiêu cực về đặc trưng f.
Đoạn đánh giá bao gồm tối thiểu ít nhất một câu. Hầu hết các nghiên cứu hiện tại tập trung vào mức câu, mỗi một đoạn bao gồm một câu. Khái niệm đoạn và câu được dùng tương đương về ngữ nghĩa trong ngữ cảnh này.3 Một số bài toán trong phân tích quan điểm 1.1 Tổng quan một hệ thống phân tích quan điểm Ngày nay đã có nhiều hệ thống phân tích quan điểm làm việc với những miền dữ liệu khác nhau, như hệ thống smcc1 của công ty InfoRe làm việc trên miền dữ liệu sản phẩm điện thoại di động, hệ thống Vsocial2 của công ty Tecapro làm việc trên miền dữ liệu ngân hàng. Nhìn chung, mô hình biểu diễn kiến trúc chung của một hệ thống khai phá và phân tích quan điểm được thể hiện như trong Hình 1.
Xuất phát từ nguồn dữ liệu đánh giá thực thể của người sử dụng trên các hệ thống như Amazon 3 , Tripadvisor 4 , Youtube 5 , thegioididong6. Hệ thống phân tích quan điểm làm việc với các nguồn dữ liệu này, gồm các thành phần chính như sau: Thu thập (crawler): thành phần tự động lấy dữ liệu đánh giá của người dùng từ các hệ thống trực tuyến Web. Tiền xử lý (pre-processing): Thành phần này có nhiệm vụ xử lý dữ liệu, gồm các công việc như: loại bỏ từ dừng, chuẩn hóa các từ và dấu cách, tách từ. Trích chọn đặc trưng (feature extraction, data representation): Sử dụng kỹ thuật biểu diễn văn bản (ví dụ, mô hình bag of word) để biểu diễn các văn bản đầu vào thành các vector đặc trưng.vn 2 https://vsocial.vn 3 https://www.com 4 https://www.com 5 https://www.com 6 https://www.2: Kiến trúc tổng quan hệ thống phân tích quan điểm theo hướng tiếp cận học máy Học máy (machine learning): Gồm có hai pha: huấn luyện và dự đoán.
Pha huấn luyện sử dụng tập dữ liệu huấn luyện làm đầu vào và có nhiệm vụ học một mô hình dự đoán. Pha dự đoán có nhiệm vụ tính toán để phân loại quan điểm cho các vector biểu diễn văn bản từ đầu vào.3: Đánh giá về khách sạn Avani Quy Nhơn trên trang Tripadvisor.2 Phân lớp quan điểm Với bài toán này có thể coi phân tích quan điểm như bài toán phân lớp văn bản. Bài toán phân lớp văn bản là đánh giá tích cực hay tiêu cực. Ví dụ, với một đánh giá sản phẩm, hệ thống xác định xem nhận xét về sản phẩm ấy là tốt hay xấu.
Phân lớp này thường phân lớp ở mức tài liệu. Thông tin được phát hiện không mô tả chi tiết về những gì mọi người thích hay không thích. Bài toán phân lớp quan điểm và phân lớp văn bản về cơ bản tương tự nhau, tuy nhiên có một số khác biệt như sau: Khác biệt thứ nhất trong bài toán phân lớp văn bản dựa vào chủ đề được xác định trước như chính trị, thể thao, ca nhạc, hội họa. trong bài toán phân lớp các quan điểm vào hai nhóm là tích cực và tiêu cực.
Khác biệt thứ hai là trong bài toán phân lớp văn bản các từ khóa liên quan tới chủ đề là quan trọng, trong bài toán phân lớp quan điểm từ khóa diễn tả quan điểm, tình cảm đóng vai trò quan trọng.3 Phân tích và tổng hợp quan điểm dựa trên đặc trưng Bài toán đi sâu vào phát hiện ở mức câu, tức là tìm kiếm các khía cạnh của đối tượng mà người đánh giá thích hay không thích. Một đối tượng có thể là sản phẩm, dịch vụ, chủ đề, cá nhân hay tổ chức. Ví dụ, trong một bài đánh giá về một sản phẩm, bài toán xác định các đặc trưng của sản phẩm mà người dùng bình luận và xác định các ý kiến là tích cực hay tiêu cực. Ví dụ, trong câu: “Giá phòng của khách sạn này quá đắt”.
Người dùng nhận xét về “Giá phòng” và ý kiến là tiêu cực. Kết quả bài toán đưa ra một bản đánh giá tổng hợp quan điểm về đối tượng được đề cập.4 Phân tích quan điểm so sánh Ngoài cách biểu diễn các quan điểm bằng cách trực tiếp nhận xét về đối tượng còn có một cách đánh giá khác bằng cách so sánh đối tượng muốn nhận xét với một đối tượng khác. Ví dụ, câu sau so sánh hai khách sạn: “View của khách sạn A đẹp hơn khách sạn B”. Chúng ta muốn xác định câu trên là trích xuất các mối quan hệ so sánh thể hiện trong câu.
Trong giới hạn của luận văn này, bài toán phân 8 lớp quan điểm là trọng tâm nghiên cứu. Coi phân lớp quan điểm như là phân lớp văn bản được đề cập. Mỗi văn bản thể hiện một quan điểm và quá trình phân lớp quan điểm chính là phân lớp văn bản. Các quan điểm được phân vào hai lớp tích cực và tiêu cực, và không quan tâm tới lớp trung lập bởi những nhận định mang tính trung lập không ảnh hưởng tới kết quả tổng hợp quan điểm.4 Ứng dụng của phân tích quan điểm "Những gì người khác nghĩ" đã luôn luôn là một phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định của hầu hết chúng ta.