Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về rủi ro thanh khoản. Thanh khoản là một phạm trù rộng lớn được các nhà nghiên cứu hay tổ chức tín dụng định nghĩa theo nhiều các khác nhau. Theo như Bank for International Settlement (BIS 2009) và ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cùng định nghĩa “thanh khoản là một khái niệm chuyên ngành về khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh tóan và giao dịch vốn của ngân hàng.
Còn theo nghiên cứu của Duttweiler (2009) chỉ ra “thanh khoản có thể được xem như khả năng thanh toán tức thời của ngân hàng thương mại khi thể hiện khả năng thuận lợi chuyển đổi từ tài sản thành nguồn tiền mặt”. Để đảm bảo tính thanh khoản tốt thì nhà quản trị cần quản lí kiểm soát được các rủi ro liên quan đến thanh khoản. Có nhiều khái niệm nói về rủi ro thanh khoản nhưng theo nghiên cứu Duttweiler 2009 cho rằng “khi ngân hàng thương mại không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó hoặc phải huy động các nguồn vốn chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại làm kéo theo những tác động tiêu cực”. Còn theo BCBS định nghĩa “rủi ro thanh khoản xuất phát từ việc ngân hàng không có khả năng gia tăng các khoản mục vốn cho việc tài trợ gia tăng tài sản ngân hàng”.
Như vậy dưới góc độ nhà quản trị ngân hàng thì trong trường hợp thiếu hụt hay thặng dư đều dẫn đến rủi ro thanh khoản. Do khả năng ngân hàng không đủ khả năng cung ứng chuyển đổi tài sản thành nguồn vốn tức thời, hay phải đi vay từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản. Tình trạng rủi ro thanh khoản và khó khăn về thanh khoản tại ngân hàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và các tổ chức tài chính khác, sau đó chuyển khoản tiền đó thành những tài sản đầu tư dài 5 hạn. Do đó, sẽ dẫn đến tình trạng tình mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản cho vay và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động.
Sai lầm trong chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần chỉ tập trung vào hoạt động cho vay mà không chú trọng cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có, Sự thay đổi lãi suất là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Do tiền gửi của ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư. Sự thay đổi lãi suất, đặc biệt là lãi suất tiền gửi, khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Biến động của tình hình kinh tế vĩ mô: Tình hình kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động các tổ chức tài chính, cụ thể là ảnh hưởng tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Trước sự thay đổi của nền kinh tế và các yếu tố vĩ mô, các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn đã bị thua lỗ nặng nề và dẫn đến tính thanh khoản không còn ổn định. Do các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam chưa nghiêm túc chấp hành những quy định do NHNN ban hành, việc thực hiện các nghị định, quy định về quản lý thanh khoản chỉ mang tính tương đối, không đảm bảo tính bền vững. Với các nghị định của NHNN về việc mức sử dụng tỷ lệ phần trăm vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, nghị định mức tỷ lệ dự trữ thanh khoản, mức trích lập dự phòng,… Việc không tuân thủ nghiêm ngặt làm cho ngân hàng phải đối mặt với khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của Ngân hàng Khi ngân hàng không đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu về vốn khả dụng của mình, họ sẽ phải tìm cách có được vốn bằng nhiều cách khác nhau và gây những thiệt hại như: Buộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao. Lãi suất huy động cao buộc lãi suất cấp tín dụng cao và khó cho vay.
Khi buộc phải trả lãi suất huy động nhưng không thể cho vay rõ ràng ngân hàng sẽ bị lỗ. Không đáp ứng được nhu cầu rút tiền dẫn đến mất niềm tin của người gửi tiền kể cả các giao dịch liên ngân hàng, Không đáp ứng nhu cầu giải ngân cho các khoản cấp tín dụng. Những thiệt hại đối với nền kinh tế liên quan đến vấn đề lạm phát, tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội: Ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư khi lãi suất tiền gửi tăng, làm gia tăng khoản tiền gửi khách hàng của ngân hàng gây ảnh hưởng đến tính luân chuyển của luồng tiền trong nền kinh tế Khi lãi suất cấp tín dụng cao làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến giá cả tăng (lạm phát tăng), giảm quy mô đầu tư dẫn đến kinh tế suy giảm. Khi giá cả tăng (lạm phát tăng) sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt, hay nói cách khác là ngân hàng không gặp rủi ro thanh khoản khi luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý. Nếu ngân hàng không có đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường sẽ có thể mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần.1 Quy mô tổng tài sản ngân hàng (SIZE). Từ các nghiên cứu nước ngoài của các tác giả như Valla and Escorbiac (2006), Bonfim and Kim (2009), Vodová (2011) và trong nước như tác giả Trương Quang Thông (2013) qua các thời điểm nghiên cứu khác nhau đều chỉ ra các sự liên hệ khác nhau về quy mô ngân hàng và khả năng thanh khoản. Theo lý thuyết kinh tế quy mô thì tổng tài sản và rủi ro thanh khoản tỷ lệ nghịch với nhau.
Đối với những ngân hàng có nguồn vốn quy mô lớn nhất là từ nguồn lực liên ngân hàng thì tạo được nền tảng vững chắc, khó sụp đổ. Đây cũng là một loại rủi ro khi từ sự chủ quan mà các ngân hàng sẽ đầu tư vào các tài sản có nhiều rủi ro để giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận. Qua đó, ngân hàng càng lớn thì đầu tư mạo hiểm càng cao nhất là từ các khoản cho vay tín dụng từ đó gia tăng khe hở tài trợ.2 Sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài (EFD). Biến này được đo bằng tỷ lệ dư nợ đi vay mượn liên ngân hàng trên tổng nguồn vốn.
Việc sử dụng nguồn vốn liên ngân hàng bằng cách chiếm dụng vốn để tạo ưu thế cho ngân hàng nhưng nếu tỷ lệ này không được kiểm soát để cho vượt quá khả năng thì dẫn đến rủi ro thanh khoản. Nhất là vấn đề về việc sử dụng vốn liên ngân hàng với lãi suất cao trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế cho thấy nguồn vốn ngân hàng đang có vấn đề lớn. Đồng thời việc vay mượn này nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền cho các tài khoản tiền gửi và tiền tiết kiệm thì càng gia tăng thêm tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu qua đó ảnh hướng đến cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng (theo Arif A. Như vậy các nguồn tài chính bên ngoài sẽ làm tăng rủi ro thanh khoản khi lãi suất cao và sử dụng không hợp lý.3 Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn (ETA).
Theo nghiên cứu của Vodova (2013a) về các quy định an toàn vốn cho rằng tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn có thể thay thế cho CAR trong quy định Basel. Tỷ lệ này phản ánh mức độ về nguồn vốn tự có của ngân hàng và mức độ rủi ro trong hoạt 8 động của tổ chức tín dụng. Tùy theo từng đặc điểm riêng của nền kinh tế của từng quốc gia mà có quy định về hệ số này khác nhau. Với Việt Nam, chính phủ dựa theo quy định của ủy ban Basel và Điều 130 Luật các TCTD 2010 quy định mức tối thiểu là 8%.
Đây được xem là quy định để có thể hạn chế được rủi ro về thanh khoản. “là phòng tuyến sau cùng chống đỡ các rủi ro khách nhau của ngân hàng” theo Trương Quang Thông 2012. Tuy nhiên nếu nguồn vốn quá cao ngân hàng sẽ giảm đi sự huy động vốn qua đó cũng gia tăng nguy cơ xuất hiện rủi ro thanh khoản theo nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga và Trầm Thị Xuân Hương (2018).4 Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (TLA). Cho vay là hoạt động chủ yếu quan trọng của ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng mới phát triển.
“Các khoản cho vay thông thường có tính thanh khoản thấp, những khoản rút tiền lớn và không được dự báo trước có thể dẫn đến việc mất thanh khoản của ngân hàng” (Bonin và cộng sự 2008).5 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản (LRA). Dự trữ thanh khoản là quy định của ngân hàng trung ương về việc yêu cầu các ngân hàng trích lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền hiện có, chứng khoán có tính thanh khoản cao để dự trữ nhằm đáp ứng các nhu cầu tức thời và dự phòng chi phí thanh khoản phát sinh. Với hai hình thức dự trữ là dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp, “được xem là hình thức quản trị thanh khoản theo truyền thống của các NHTM” (Trương Quang Thông 2012). Qua thực tế ta thấy, ngân hàng có tỷ lệ dự trữ thanh khoản cao đồng nghĩa với khả năng giải quyết vấn đề rủi ro một cách hiệu quả nhất.
Tuy nhiên cũng nên tránh việc dự trữ vốn quá nhiều làm mất đi lợi thế của bản thân.