CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung Động đất gây thiệt hại lớn về tài sản và con người, điển hình như trận động đất xảy ra ở Nhật Bản năm 2011 làm 15.893 người thiệt mạng, 6.152 người bị thương và 2.572 người mất tích tại 18 tỉnh của Nhật Bản và hơn 125.000 công trình nhà ở bị hư hại hoặc phá hủy hoàn toàn (Wikipedia), vì thế, việc ước tính tác động của động đất đến công trình là rất cần thiết. Phân tích kết cấu thường giả định rằng độ cứng dọc trục và độ cứng chịu uốn không đổi và liên kết tại các nút khung được xem như là tuyệt đối cứng trong suốt quá trình chịu lực. Tuy nhiên trong thực tế, điều kiện lý tưởng như vậy ít khi xảy ra, đặc biệt khi kết cấu chịu tác động của động đất, vì ứng xử thật của vật liệu là ứng xử phi tuyến và liên kết cũng không là tuyệt đối cứng.
Khi nội lực tăng lên, độ cứng dọc trục và độ cứng uốn giảm đi, cấu trúc hình học của vật liệu sẽ thay đổi liên tục khi chịu các lực tác dụng khác nhau. Vì vậy, để đánh giá một cách chính xác phản ứng của công trình dưới tác dụng của các tải trọng, đặc biệt là tải trọng động đất, cần phải xét tới sự làm việc sau giai đoạn đàn hồi của kết cấu. Phân tích bậc nhất giả thiết rằng biến dạng tỉ lệ với lực tác dụng, vì vậy quan hệ giữa chuyển vị và lực tác dụng là tuyến tính. Điểm nổi bật của phương pháp này là sự phù hợp với nguyên lý cộng tác dụng trong những trường hợp tải trọng khác nhau.
Phi tuyến hình học 1 Khác với phân tích đàn hồi tuyến tính, lời giải có thể tìm được một cách đơn giản và trực tiếp, phân tích phi tuyến hình học (Hình 1.1) thường cần đến việc tính lặp trong cách gia tải từng bước do sự thay đổi hình học của kết cấu không được biết khi thiết lập phương trình cân bằng và quan hệ động học cho bước tính toán hiện tại. Phân tích này rất cần thiết khi ngày càng có nhiều kết cấu có độ mảnh lớn, làm bằng vật liệu nhẹ có cường độ cao. Bên cạnh đó, công trình bị hư hại hay bị phá hủy dưới tác dụng của động đất còn phụ thuộc vào sự mất ổn định của hệ kết cấu do sự chảy dẻo khi tải trọng tác dụng. Phân tích phi tuyến vật liệu (Hình 1.2) là phân tích có kể đến ứng xử không đàn hồi của vật liệu, khi đó quan hệ ứng suất và biến dạng không còn là hàm tuyến tính.
Phương pháp chính trong phân tích phi tuyến vật liệu kết cấu thép thường dùng là phương pháp khớp dẻo. Với phương pháp này, phần tử được giả thiết vẫn còn hoàn toàn đàn hồi giữa các đầu mút của nó, một khi sự chảy dẻo của mặt cắt ngang được tìm thấy sẽ có một khớp dẻo tại đầu mút chảy dẻo. Mô hình khớp dẻo (OpenSees_User, 2016) Ngày nay, với nhiều công trình nghiên cứu và sự phát triển của kỹ thuật tính toán, việc phân tích phi tuyến công trình chịu động đất có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. 2 Phương pháp phân tích phi tuyến theo miền thời gian (NL –RHA) là công cụ mạnh để nghiên cứu tác động của động đất lên công trình, các phản ứng địa chấn của kết cấu khi chịu động đất có thể được ước tính chính xác.
Tải trọng động đất được phân tích trực tiếp lên công trình thông qua phương trình động học phi tuyến. Độ chính xác của kết quả, tính ổn định của nghiệm và thời gian tính toán phụ thuộc vào độ dài của bước thời gian và việc lựa chọn hàm số mô tả sự biến thiên của chuyển vị, vận tốc và gia tốc. Phương pháp này tuy chính xác nhưng phức tạp và tốn nhiều chi phí tính toán nên khó áp dụng trong thực tế. Dữ liệu động đất b.
Mô hình tính toán Hình 1. Bài toán phân tích phi tuyến theo miền thời gian Để đơn giản trong tính toán nhưng vẫn đảm bảo được tính chính xác, các nhà nghiên cứu đã đề xuất phương pháp mới gọi là phương pháp tĩnh, phương pháp này thực hiện việc tĩnh hóa bài toán, chuyển bài toán từ phân tích động sang bài toán phân tích tĩnh từ đó rút ra các phản ứng của hệ kết cấu dưới tác động của địa chấn. Kể từ khi ra đời, các phương pháp tĩnh đã được sử dụng rộng rãi và đã được chứng minh là phương pháp có độ tin cậy cao trong việc đánh giá đáp ứng của công trình dưới tác của động đất. Phương pháp tĩnh phi tuyến Nonlinear Static Procedure (NSPs) được giới thiệu trong ATC – 40 (1996) và FEMA – 356 (2000).
Việc đánh giá phản ứng địa chấn của công trình được tính toán bằng cách: các kết cấu chịu tải ngang tăng dần theo một qui luật nhất định, thường là bất biến, phân phối tải ngang theo chiều cao cho đến khi đạt 3 được chuyển vị mục tiêu đã xác định trước. Chuyển vị mục tiêu được xác định từ sự biến dạng của hệ một bậc tự do tương đương (SDF). Phương pháp phổ khả năng CSM (Capacity Spectrum Method) trình bày trong ATC – 40 (Applied Technology Council, 1996) được phát triển bởi Freeman. Tiến trình của phương pháp này là xây dựng đường cong khả năng của hệ một bậc tự do và so sánh với phổ thiết kế, chuyển vị mục tiêu được xác định là giao điểm của phổ khả năng (Capacity Spectrum) và phổ thiết kế (Demand Spectrum) trên đồ thị gia tốc – chuyển vị ADRS (Acceleration - Displacement Response Spectrum) (Hình 1.
Phương pháp này được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá nhanh ảnh hưởng của động đất lên công trình, tuy nhiên, phương pháp này dựa trên các mẫu tải bất biến nên độ chính xác không cao đối với công trình cao tầng. Chuyển vị mục tiêu xác định theo phương pháp CSM (ATC – 40,1996) Phương pháp hệ số chuyển vị DCM (Displacement Coefficient Method) trình bày trong FEMA - 356 (Federal Emergency Management Agency, 2000) là một phương pháp xấp xỉ dựa trên hệ số hiệu chỉnh chuyển vị. Chuyển vị của hệ nhiều bậc tự do được hiệu chỉnh thành chuyển vị của hệ một bậc tự do tương đương bằng các hệ số: 2 T t C0C1C2C3Sa c g 2 (1.1) 4 trong đó: C0: hệ số hiệu chỉnh dựa trên phổ chuyển vị của hệ SDOF tương đương với chuyển vị đỉnh của hệ MDOF. C1: hệ số tương quan giữa biến dạng cực đại của hệ không đàn hồi và biến dạng của hệ đàn hồi tuyến tính.
C2: hệ số có kể đến ảnh hưởng của vòng lặp trễ (pinch), sự suy biến độ cứng và sự giảm độ bền trên đáp ứng chuyển vị cực đại và hệ số hiệu chỉnh. C3: hệ số kể đến hiệu ứng P-∆, bỏ qua hệ số độ cứng (post-yeild). Te :chu kỳ dao động chính Sa : gia tốc phổ tại các chu kỳ dao động chính của nền và hệ số cản của kết cấu theo hướng xem xét. Phương pháp này chỉ xét đến dạng dao động đầu tiên đại diện cho phản ứng chủ yếu của kết cấu, đồng thời, tải trọng được điểu chỉnh tăng dần thông qua các hệ số chuyển vị để đạt đến chuyển vị mục tiêu được xác định trước.
Đối với các công trình cao tầng, khi các dạng dao động cao hơn là đáng kể thì phương pháp DCM không còn chính xác. Cả 2 phương pháp CSM và DCM đều phân tích đáp ứng của hệ kết cấu dựa trên hệ một bậc tự do, phản ứng của hệ kết cấu được kiểm soát bởi một dạng dao động duy nhất trong suốt quá trình phân tích, tải trọng ngang phân bố lên công trình dựa trên các mẫu tải bất biến. Theo Krawinkler và Seneviratna (1998) hai giả thiết sau được chấp nhận đối với phương pháp này là : (1) Phản ứng thu được của hệ nhiều bậc tự do được thay thế bằng hệ một bậc tự do, điều này cho thấy rằng, phản ứng của kết cấu được kiểm soát bởi một dạng dao động duy nhất và hình dạng của dạng dao động được giữ nguyên không đổi trong suốt thời gian phản ứng. (2) Tải trọng ngang phân bố lên công trình đại diện cho lực động đất tác dụng lên công trình.
Tuy nhiên, trong thực tế sơ đồ phân bố tải ngang lên chiều cao công trình không chỉ chịu ảnh hưởng của dạng dao động đầu tiên và tải trọng bất biến mà còn chịu ảnh hưởng 5 của các dạng dao động khác, đặc biệt là ở kết cấu cao tầng, do đó, nhằm khắc phục những hạn chế này, các nhà nghiên cứu đã tìm cách hiệu chỉnh sơ đồ phân bố lực ngang bằng cách xét tới sự ảnh hưởng của các dạng dao động cao hơn. Trong số các nghiên cứu đó, nổi bật nhất là phương pháp phân tích đẩy dần MPA (Modal Pushover Analysis) do Chopra và Goel (2002) đề xuất. Phương pháp MPA thực hiện qui trình phân tích đẩy dần có xét đến dạng dao động cao và tải ngang đẩy dần được xác định theo dạng dao động của kết cấu, chuyển vị mục tiêu của hệ được xác định thông qua hệ một bậc tự do bằng cách giải phương trình phi tuyến, đáp ứng tổng của hệ được tổ hợp từ các kết quả phân tích ở từng dạng dao động nên phương pháp MPA có độ chính xác cao hơn trong việc đánh giá địa chấn không chỉ cho các công trình thấp tầng mà cho cả các tòa nhà cao tầng so với phương pháp tĩnh phi tuyến thông thường. Phương pháp phân tích đẩy dần (Chopra và Goel, 2002) Gần đây, một phương pháp đẩy dần đáp ứng mới được phát triển bởi Kalkan và Kunnath (2006) gọi là phương pháp kết hợp đáp ứng AMC (Adaptive Modal Combination), với phương pháp này, sự phân phối tải trọng được cập nhật để xem xét những thay đổi trong cấu trúc trong giai đoạn không đàn hồi, tải trọng động đất tương đương được tính toán tại mỗi bước đẩy dần bằng cách sử dụng trực tiếp hình dạng các dạng dao động.
Phương pháp này dự đoán phản ứng địa chấn chính xác hơn so với phương pháp MPA khi so sánh với phương pháp phân tích phi tuyến theo miền thời 6 gian (NL-RHA). Tuy nhiên, đây là phương pháp phân tích phức tạp trong khi phương pháp MPA có qui trình thực hiện đơn giản hơn, do đó, thực tế hơn so với phương pháp AMC trong thiết kế công trình động đất. Tương tác nền Ảnh hưởng của nền đất đối với hệ kết cấu khi xảy ra động đất là rất quan trọng. Các kết quả nghiên cứu về công trình chịu tác động của động đất thường bỏ qua ảnh hưởng của đất nền đối với công trình và xem như là ngàm cứng tại chân công trình.