Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại Taipei Fubon - Chi nhánh Bình Dương. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại Taipei Fubon – Chi nhánh Bình Dương. 2 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại Taipei Fubon – Chi nhánh Bình Dương. Tóm tắt nội dung đề tài Bài khóa luận này được thực hiện với mục tiêu là nghiên cứu hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại NHTM Taipei Fubon giai đoạn từ năm 2020 đến 2022.
Chương một, một số lý luận cơ bản chung về hoạt động tín dụng ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, vai trò, đặc điểm của hoạt động tín dụng ngân hàng và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chương hai, em giới thiệu sơ về quá trình hình thành và phát triển, các lĩnh vực hoạt động kinh doanh các sản phẩm tín dụng cho vay hiện có tại ngân hàng TaipeI Fubon. Đồng thời đánh giá nâng cao chất lượng hoạt động của Taipei Fubon thông qua các số liệu thống kê,. Đi sâu vào thực tiễn của ngân hàng về hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp từ năm 2020 đến 2022.
Từ đó đưa ra đánh giá, nhận xét để nâng cao chất lượng và hoàn thiện công tác hoạt động tín dụng tại ngân hàng đối với các khách hàng doanh nghiệp. Chương ba, trình bày về định hướng, nhận xét và khuyến nghị để hoàn thiện hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TM Taipei Fubon. CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐÔNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MAI TAIPEI FUBON - CHI NHÁNH BÌNH DƯƠNG 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của ngân hàng 1.1 Khái niệm của tín dụng 3 Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa một bên chủ thể ngân hàng và một bên chủ thể doanh nghiệp. Tín dụng là một hình thức giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong giao dịch này bên cho vay sẽ đưa cho bên đi vay một số tiền như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bên đi vay sẽ sử dụng số tiền này với nhiều mục đích khác nhau nhưng phải có trách nghiệm hoàn trả gốc và lãi theo đúng hợp đồng. Theo quan điểm của Mark: “Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một khoảng thời gian nhất định phải thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.” Quan hệ tín đụng còn hiểu theo nghĩa rộng hơn là việc huy động vốn và cho vay vốn tại các ngân hàng, theo đó ngân hàng đóng vai trò trung gian trong việc “đi vay để cho vay”.2 Đặc điểm tín dụng của ngân hàng Tín dụng ngân hàng có 3 đặc điểm sau: Huy động vốn và cho vay đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ. Nguồn vốn tín dụng mà ngân hàng cho vay được hình thành từ những khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Khi huy động vốn của xã hội, ngân hàng là người đi vay. Khi cấp tín dụng cho các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế ngân hàng là người cho vay. Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.3 Bản chất của tín dụng ngân hàng Tín dụng ra đời là một yếu tố khách quan trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, bởi thế khi nền sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định sẽ đưa đến sự phân hóa giàu nghèo, có người thừa vốn, cũng có người thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Để giải quyết vấn đề trên, ngân hàng và quỹ tín dụng đã 4 đứng ra làm trung gian giữa họ và thực hiện điều hòa tạm thời nhu cầu về vốn trong xã hội.
Tín đụng là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua quá trình vận động vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình vận động có được thể hiện qua 3 giai đoạn như sau: Thứ nhất: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ được chuyển từ người cho vay sang người đi vay, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa thông thường. Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn mục đích nhất định. Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định.
Thứ ba: Sự hoàn trả tín dụng Đây là gia đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn chỉnh một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ, thì người đi vay hoàn toàn trả cho bên vay cả vốn gốc và lãi.2 Hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm tín dụng khách hàng doanh nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân hiện nay, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa, lao động, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn, lượng tiền cung ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về vốn. Theo khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH3 thì được hiểu như sau: “ Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Tín dụng là hình thức cho vay vốn tín chấp hoặc thế chấp tại ngân hàng trong thời hạn 12 tháng, thường được bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời, 5 phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đáp ứng một số nhu cầu vốn cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình.2 Đặc điểm tín dụng khách hàng doanh nghiệp Cho vay chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Bởi lẽ, việc cho vay và thu nợ là hành vi bắt đầu và kết thúc của một chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô và thời hạn của các khoản vay tùy thuộc vào mục đích sử dụng vốn của khách hàng, nhưng các khoản vay thường tập trung vào thời gian ngắn hạn hơn là trung dài hạn. Vì đa số khách hàng doanh nghiệp dùng tiền để trang trải chi trả cho các hoạt động như mua nguyên vật liệu, tăng vốn lưu động hay trả lương cho công nhân viên,… Lợi nhuật từ hoạt động cho vay là một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của ngân hàng.
Với số lượng lớn từ khách hàng và nhu cầu vay vốn cao đã tạo nên một lợi nhuận khổng lồ cho NHTM, giúp đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc gia.3 Lợi ích của tín dụng khách hàng doanh nghiệp Đối với nền kinh tế: Cho vay doanh nghiệp để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu hàng hóa, sản xuất kinh doanh, dịch vụ có tác dụng kích cầu nền kinh tế, tận dụng tiềm năng về vốn để góp phần thúc đẩy phát triển kinh doanh tiêu dùng, nâng cao đời sống của người dân. Tạo điều kiện cho mỗi cá nhân tiếp xúc với các dịch vụ của ngân hàng, giúp phát triển hệ thống ngân hàng thương mại. Đối với ngân hàng: Các sản phẩm cho vay khách hàng doanh nghiệp không những giúp ngân hàng mang lại nguồn thu nhập lớn mà còn có thể mở rộng quan hệ với khách hàng, đồng thời còn tăng khả năng huy động các loại tiền gửi, tiền tiết kiệm và các sản phẩm khác. Đối với khách hàng: Khách hàng sẽ nhận được sự hỗ trợ để có nguồn tiền để tiêu dùng, đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh với một mức lãi suất hợp lý và an toàn.
Từ đó, tín dụng sẽ thúc đẩy sức mua của người tiêu dùng, tạo đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế xã hội.4 Vai trò tín dụng khách hàng doanh nghiệp Cho vay giúp các doanh nghiệp tăng cười quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả. Cho vay bổ sung, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh sản xuất. Cho vay tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh.5 Các hình thức tín dụng khách hàng doanh nghiệp a. Mục đích tín dụng: Tín dụng cá nhân đây là các khoản tín dụng cấp để mua sắm, hàng hóa tiêu dùng trong cuộc sống cá nhân.
Tín dụng bất động sản: Tín dụng ngắn hạn: cho xây dựng và mở rộng đất đai. Tín dụng dài hạn: để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ trang trại và bất động sản ở nước ngoài. Tín dụng công thương nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương. Tín dụng nông nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp cho các hoạt động trồng trọt, thu hoạch và chăn nuôi gia súc.
Tín dụng cho các tổ chức tài chính: đây là khoản tín dụng cấp cho các NH, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. Đối tượng tín dụng: Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất. Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố định, loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn. Tín dụng vốn cố định thường được cấp phát phục vụ cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
Thời hạn sử dụng tiền vay: 7 Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, loại tín dụng này chiếm chủ yếu trong các ngân hàng thương mại.