CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng Ngân hàng Theo quan điểm của Raymond Anderson (2007), tác giả cuốn sách Theory and Practice for Retail Credit Risk Management cho rằng “ Tín dụng có nghĩa là mua bây giờ và hoàn trả sau này, người cho vay cung ứng vốn để người đi vay mua hàng hóa dịch vụ, hay tài sản có giá trị. Người cho vay tin tưởng ở người đi vay và người đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả.
Tín dụng có nguồn gốc từ Latin có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm” [18. tr 3] Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi.
Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh [2] Các Mác cho rằng tín dụng dưới các hình thức biểu hiện đơn giản là sự tín nhiệm nhiều ít có căn cứ, đã khiến cho một người này giao cho người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái tiền hoặc hình thái hàng hóa đánh giá một số tiền nhất định nào đó. Số tiền này được trả trong thời gian nhất định. Khi tư bản cho vay, người ta tăng số tiền phải hoàn trả lên thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định, coi đó là tiền để trả quyền sử dụng tư bản [3. tr 123] Theo luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về sửa đổi bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại khoản 3, 10 sửa đổi điều 20 có nêu: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng.
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” [4] Theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức Tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” [5] Từ các khái niệm trên cho thấy tín dụng Ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với doanh nghiệp và cá nhân. Bản chất của tín dụng ngân hàng có thể được cụ thể hóa như sau: Là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng a. Dịch vụ Ngân hàng Trong phân tổ các ngành của nền kinh tế thì ngành ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ. Tất cả các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đều được coi là hoạt động dịch vụ, bao gồm cả hoạt động tín dụng.
Đặc trưng của dịch vụ Ngân hàng: Tính vô hình: Khách hàng khi mua dịch vụ tài chính ngân hàng thường không nhìn thấy hình dạng cụ thể của loại hình dịch vụ nên rất khó đánh giá và so sánh chất lượng như các hàng hoá hữu hình khác, chỉ cảm nhận thông qua các tiện ích mà sản phẩm mang lại. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời: Chu kỳ của một sản phẩm chia làm hai giai đoạn: sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên đối với sản phẩm tài chính, chúng được tạo ra khi khách hàng có yêu cầu và tiêu thụ ngay. Không ổn định về mặt chất lượng và dễ sao chép (cả về tính chất và hình thức) và do nhiều yếu tố cấu thành: Một sản phẩm dịch vụ tài chính do sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nhân lực, công nghệ.) và bên ngoài (môi trường, thể chế.
Ngoài ra còn có sự tham gia của các NHTM và các tổ chức phi tài chính. Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ Từ ngữ tiếng Anh có nghĩa tương đương liên quan tới hoạt động ngân hàng bán lẻ có thuật ngữ “retail banking”. Nguyên văn định nghĩa trên investorglossary.com [21]: Retail banking is a banking service that is geared primarily toward individual consumers, many retail banking products may also extend to small and medium sized businesses. Tạm dịch là Ngân hàng bán lẻ là một dịch vụ Ngân hàng mà hướng chủ yếu đến khách hàng cá nhân, nhiều sản phẩm ngân hàng bán lẻ cũng hướng đến các khách hàng là doanh 12 nghiệp vừa và nhỏ.
Định nghĩa trên investopedia.com [22] Wholesale banking deals with large institutions, where as retail banking would focus more on the individual or smaller business. Tạm dịch là Ngân hàng xử lý giao dịch với các doanh nghiệp lớn, trong khi Ngân hàng bán lẻ sẽ tập trung hơn vào khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp nhỏ. Theo các định nghĩa này, đối tượng khách hàng của hoạt động ngân hàng bán lẻ là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo WTO, dịch vụ bán lẻ của ngân hàng là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các điểm giao dịch của NH để thực hiện các DV như gửi tiền, vay tiền, thanh toán, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ.
Đối với các ngân hàng thương mại, DVBL giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, mang lại nguồn thu ổn định và chất lượng cho các NH. Bên cạnh đó, nó mang lại cơ hội đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng, cơ hội bán chéo với cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á, DVBL của NH là dịch vụ cung ứng sản phẩm - dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo từ điển Bách khoa kinh tế của Nhà xuất bản từ điển bách khoa năm 2008 [1.
tr 875] thì Retail banking - dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng cung cấp cho dân chúng. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một nhóm dịch vụ tài chính bao gồm cho vay chi trả dần, cho vay có thế chấp, cho vay tín dụng vốn, dịch vụ ủy thác, tài khoản hưu trí cá nhân. Ngược lại với dịch vụ ngân hàng trọn gói (wholesale banking) hay dịch vụ ngân hàng dành cho công ty, 13 dịch vụ ngân hàng bán lẻ có công việc rất nhiều với người cung cấp dịch vụ, cạnh tranh với nhau để giành thị trường. Theo từ điển Ngân hàng và Tin học của nhà xuất bản Chính trị quốc gia – 1996 thì Retail banking – hoạt động ngân hàng bán lẻ/ nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ/ dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính bao gồm: cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân.
Theo cách hiểu thông thường, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ chủ yếu cho khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các gia đình và các cá nhân. Nói tóm lại, kết hợp các quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về dịch vụ bán lẻ như sau: Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ là các dịch vụ ngân hàng cung ứng các đối tượng khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình hay doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các mạng lưới chi nhánh hoặc việc các khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông. Dịch vụ tín dụng bán lẻ của Ngân hàng Các quan niệm về dịch vụ tín dụng bán lẻ của Ngân hàng Theo nghiên cứu của chuyên gia kinh tế tài chính H. Machiraju trong cuốn sách Modern Commercial Banking thì: “tín dụng bán lẻ bao gồm tín dụng tiêu dùng, các khoản cho vay mua nhà, hàng hóa, thẻ tín dụng… Sự phát triển của tín dụng bán lẻ là do những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin, phát triển môi trường kinh tế vĩ mô đến cải cách thị trường tài chính và nhu cầu tiêu dùng xã hội” Tra cứu các từ điển kinh tế học hiện đại, từ điển tài chính ngân hàng hiện có trên thị trường, không có khái niệm về hoạt động hay dịch vụ tín dụng bán 14 lẻ.
Tuy nhiên, có thể hiểu xuất phát của cụm từ hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng là do cách phân chia các hoạt động ngân hàng thành từng mảng hoạt động để thực hiện chiến lược kinh doanh của ngân hàng nhằm phục vụ các đối tượng khách hàng. Theo cách hiểu này thì hoạt động tín dụng bán lẻ là hoạt động tín dụng dành cho đối tượng khách hàng bán lẻ. Hay có thể hiểu, hoạt động tín dụng bán lẻ là việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tín dụng ngân hàng trực tiếp đến khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa.