CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Định nghĩa về Ngân hàng thương mại Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã xuất hiện được hơn 70 năm nếu tính từ thời điểm ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam vào ngày 6/5/1951. Có thể nói đây là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ - ngân hàng Việt Nam.
Tuy vậy, trên thế giới các hoạt động tín dụng đã xuất hiện rất sớm từ thế kỷ thứ tư trước Công nguyên ở Hy Lạp, La Mã. Và đến thế kỷ 15, 16 hệ thống ngân hàng có các nghiệp vụ hoàn chỉnh tại Anh, Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Hà Lan. Qua đó, ngành Tài chính - Ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn rất non trẻ trên bản đồ thế giới. Có nhiều cách để đưa ra định nghĩa thế nào là ngân hàng chẳng hạn như: - Ở Mỹ, “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
- Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật năm 2010 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận.Rose (2008) đã đưa ra một khái niệm mới về ngân hàng: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Định nghĩa này tập trung về khía cạnh các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, theo đó ngân hàng là một định chế tài chính kinh doanh tổng hợp, được coi như một Tổng công ty bách hóa dịch vụ tài chính. Kết quả này đồng nhất với kết luận từ nghiên cứu của Thomas P.Fitch (2012) cho rằng 8 “Tổ chức ngân hàng thường là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng”. Khái niệm về ngân hàng thương mại khá đa dạng, tuy vậy để đưa ra một khái niệm chính xác thì ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tiền tệ.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động tạo lập nguồn vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động đầu tiên, mang tính chất tiền đề cho một NHTM khi mới bắt đầu kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.
Hoạt động huy động vốn này sẽ tạo lập nguồn vốn hoạt động ban đầu cho NHTM, đồng thời đảm bảo nguồn vốn hoạt động cho các NHTM đó trong quá trình tồn tại và phát triển. NHTM huy động vốn từ ba nguồn cơ bản, đó là: nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn tiền gửi, và nguồn vốn đi vay. Hoạt động sử dụng vốn Sau khi huy động được nguồn vốn, NHTM muốn tìm kiếm được lợi nhuận phải thực hiện hoạt động thứ hai của mình là hoạt động sử dụng vốn. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM được diễn ra chủ yếu với một số các hoạt động sau: Hoạt động huy động vốn: Là hoạt động bắt buộc trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
Hoạt động cấp vốn có vai trò đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại. Các hoạt động gây quỹ bao gồm: - Dự trữ tiền mặt tại kho ngân hàng - Gửi tiền vào ngân hàng trung ương. Các ngân hàng thương mại gửi tiền vào ngân hàng trung ương dưới hai hình thức: tiền gửi dự trữ theo luật định và tiền gửi giải ngân (tiền gửi không kỳ hạn). - Tiền gửi tại các ngân hàng thương mại khác.
Các khoản tiền gửi này chủ yếu tồn tại dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi ngắn hạn. 9 Hoạt động cấp tín dụng: Là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM. Các ngân hàng thương mại đạt được thỏa thuận hoặc cam kết với khách hàng thông qua việc cấp tín dụng, tạo điều kiện cho khách hàng có quyền sử dụng một lượng tiền nhất định trong một thời hạn nhất định gắn với nguyên tắc hoàn trả. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có nhiều hình thức bao gồm: cho vay; chiết khấu; tái chiết khấu chứng khoán; bảo lãnh ngân hàng; hoặc cho thuê tài chính.
Trong các hình thức hoạt động cấp tín dụng thì hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng chủ yếu. Hoạt động đầu tư: Các NHTM kết hợp hoạt động cho vay với hoạt động đầu tư, đa dạng hóa hoạt động sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro hoạt động nhằm gia tăng lợi nhuận đồng thời đảm bảo an toàn tài chính. Các lĩnh vực đầu tư mà các NHTM lựa chọn bao gồm: đầu tư liên doanh, liên kết; đầu tư trên thị trường chứng khoán (chứng khoán nợ, chứng khoán vốn của chính phủ và các tổ chức kinh tế)… Hoạt động đầu tư thành công sẽ giúp NHTM tăng khả năng thanh khoản, giảm thiểu rủi ro thất thoát, đa dạng hóa việc sử dụng vốn. Hoạt động trung gian tài chính NHTM ngày nay thực hiện cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong điều kiện hội nhập, phát triển kinh tế, đồng thời góp phần gia tăng thu nhập cho mình.
Các dịch vụ ngân hàng do NHTM cung cấp như: dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh (trong tín dụng, đấu thầu, xuất nhập khẩu,…), dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ đại lý và kinh doanh chứng khoán…. Bên cạnh đó, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các NHTM cung cấp các dịch vụ mới trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng như: dịch vụ thẻ, Internet banking,… 1. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các ngân hàng có tính nhạy cảm cao đối với xã hội, là đầu mối của nhiều mối quan hệ liên quan đến kinh tế vi mô và vĩ mô.
Ngân hàng thương mại là một dạng tổ chức tài chính trung gian trong hệ thống ngân 10 hàng. Đặc thù của hoạt động ngân hàng là thực hiện trên thị trường tiền tệ với những biến động gay gắt và bất thường nên hiệu quả kinh doanh càng trở nên quan trọng. Để đánh giá đầy đủ và chính xác hiệu quả hoạt động của NHTM là rất phức tạp và khó khăn. Những năm gần đây, hệ thống NHTM cổ phần phát triển ngày càng hoàn thiện và đa dạng hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thì sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã có tác động lớn, thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, do đó việc hoạt động kinh doanh sao cho hiệu quả của ngân hàng càng trở nên quan trọng. Các NHTM hoạt động đều nhằm mục đích lợi nhuận, dưới áp lực phải hạ thấp chi phí trong điều kiện cạnh tranh với nhiều định chế tài chính khác, hiệu quả được xem xét trên quan điểm biến đổi đầu vào thành đầu ra. Phân tích hoạt động kinh doanh là một giai đoạn của công tác quản trị ngân hàng, là cơ sở đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh và đưa ra những kiến nghị, những giải pháp xử lý; là cơ sở cho những quyết định kịp thời và đúng đắn. Các chỉ tiêu trong nhóm này giúp cho ngân hàng đánh giá được hiệu quả của quá trình kinh doanh bằng cách so sánh kết quả kinh doanh đạt được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó.
Sự cần thiết của việc phân tích hoạt động kinh doanh Xét trên góc độ của ngân hàng: Phục vụ cho việc quản trị và điều hành hoạt động của ngân hàng nhằm sử dụng các nguồn lực như nhân lực, tài lực, vật lực phù hợp với tiềm lực của ngân hàng, nâng cao được năng lực cạnh tranh và lợi nhuận của ngân hàng. Và với các cổ đông, việc phân tích HĐKD phục vụ cho việc đánh giá, giám sát hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình. Hơn nữa, hiệu quả kinh doanh tốt phải là đảm bảo lưu thông hàng hóa và tiền tệ thông suốt, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm khi xét trên góc độ kinh tế - xã hội. Khác với doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của ngân hàng rất nhỏ so với tổng tài sản nợ.
Hoạt động chính của ngân hàng là trung gian tài chính tín dụng, chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng 11 vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Do đó hoạt động ngân hàng mang rủi ro rất lớn, nếu hệ thống kiểm soát không tốt, gây ra nợ xấu, nợ khó đòi, nợ có khả năng mất vốn cao thì sẽ gây ra mất cân đối dẫn đến mất vốn và đi đến khả năng sụp đổ.
Hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn và sâu rộng đến nền kinh tế, nên hoạt động ngân hàng mang ảnh hưởng dây chuyền, nếu một ngân hàng hoạt động yếu kém, sụp đổ thì sẽ gây ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng.