CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH CAMELS 1. Giới thiệu về mô hình Camels 1. Sơ lươc về mô hình Camels Năm 1979, Hệ thống đánh giá (UFIRS) thống nhất tổ chức tài chính đã được thực hiện tại các tổ chức ngân hàng Mỹ, và sau này trên toàn cầu, theo một khuyến cáo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Hệ thống này đã trở nên nổi tiếng quốc tế với Camels viết tắt, phản ánh năm lĩnh vực đánh giá: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập và thanh khoản.
Năm 1995 Cục Dự trữ Liên bang và OCC thay Camels với Camels, thêm "S" là viết tắt của tài chính (S) stem Mô hình Camels là một mô hình đánh giá quốc tế công nhận mà cơ quan ngân hàng giám sát sử dụng để đánh giá các tổ chức tài chính theo sáu yếu tố đại diện bởi các từ viết tắt " Camels." Cơ quan giám sát ngân hàng chỉ định mỗi điểm trên thang điểm và xếp hạng từ một được coi là tốt nhất và sự đánh giá trên thang điểm từ 1 đến 5, nhưng xếp hạng 3, 4 thậm chí 5 có thể khiến các tổ chức tương ứng với hành động thực thi, giám sát nâng cao, và những hạn chế về mở rộng. Phương pháp xếp loại theo mô hình Camels được NHNN áp dụng trong Quy chế “Xếp loại các TCTD VN” ban hàng kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ- NHNN ngày 12/03/2008 của Thống đốc NHNN. Thông qua các nhân tố, cơ quan giám sát đánh giá và phân hạng TCTD với thang điểm từ mức 1-5 cho mỗi nhân tố, sau đây là mô tả về các mức độ đánh giá mô hình Camels: - Mức 1: Đây là mức cao nhất thực hiện và hoạt động quản lý rủi ro mạnh mẽ luôn cung cấp cho các hoạt động an toàn. Cơ quan quản lý xác định rõ ràng tất cả các rủi ro và sử dụng bù đắp các yếu tố giảm nhẹ lo ngại.
Xu hướng lịch sử và dự báo các biện pháp thực hiện chính luôn tích cực. Các ngân hàng và TCTD trong 6 nhóm này được đánh giá là chống được những rối loạn kinh tế và tài chính đối ngoại cũng như chịu được những tác động kinh doanh bất ngờ của các điều kiện bên ngoài hơn. Bất kỳ điểm yếu nào đều có thể được xử lý một cách thường xuyên của ban giám đốc và quản lý. Những ngân hàng và TCTD tuân thủ đáng kể với luật pháp và các quy định.
Do đó các Ngân hàng và TCTD ở mức này không cần sự giám sát. - Mức 2: Phản ánh tình trạng hoạt động và quản lý rủi ro cũng gần như mức 1. Các ngân hàng và TCTD trong nhóm này chịu sự tấn công của các điều kiện kinh doanh bất lợi và dễ dàng xấu đi nếu những hành động không có hiệu quả trong việc điều chỉnh các lĩnh vực nhất định. Ngân hàng và TCTD đòi hỏi nhiều hơn sự giám sát để giải quyết những thiếu sót.
- Mức 3: Hoạt động hiện tại của Ngân hàng và TCTD chưa hoàn thiện ở một vài cấp độ, đã có sự kết hợp của nhiều sự yếu kém, nếu không có sự chuyển hướng trong chính sách hoạt động thì tình trạng sẽ trở nên nghiêm trọng. Ngân hàng và TCTD trong nhóm này có thể nói là hoạt động đang ở sát giới hạn vì thế yêu cầu giám sát được chú ý nhiều hơn. - Mức 4: Hoạt động của Ngân hàng và TCTD là yếu kém, dưới mức trung bình, không tương xứng với quy mô và sự phức tạp của tổ chức. Với tình trạng hoạt động như thế này, nếu không có sự cải thiện sẽ dẫn tới những điều kiện ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của Ngân hàng và TCTD.
Sự giám sát chặt chẽ phải được áp dụng với tổ chức thuộc nhóm này - Mức 5: Đây là mức thấp nhất, cho thấy tình trạng hoạt động của Ngân hàng và TCTD yếu kém đến mức nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại của tổ chức. Đối tượng thuộc nhóm này có nguy cơ phá sản cao hoặc phải cần đến những giải pháp như cứu trợ khẩn cấp, xáp nhập, mua lại…. Các yếu tố của mô hình Camels trong đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. C – Capital adequacy (Mức độ an toàn vốn) 7 ➢ Nguyên tắc cơ bản của mức độ an toàn vốn Vốn tự có là cơ sở để tính toán các giới hạn đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân hàng, vấn đề quản lý vốn của trở thành một yêu cầu pháp lý vì lợi ích của công chúng.
Đối với kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng có đủ VTC, có VTC lớn và duy trì được VTC là biểu hiện một Ngân hàng bền vững”. Hiện nay, tỷ lệ an toàn vốn ở nước ta phải tối thiểu 9% theo quyết định, theo thông tư 13/2010/TT-NHNN). Ngoài ra, còn có những quy định về giới hạn an toàn hoat động khác trên cơ sở vốn tự có của Ngân hàng như sau: giới hạn tối đa góp vốn đầu tư, liên doanh liên kết, mua cổ phần; giới hạn về cho vay tối đa môt khách hàng; giới hạn cho vay các đối tượng ưu đãi; giới hạn về mức bảo lãnh tối đa cho môt khách hàng và tổng mức bảo lãnh cho một Ngân hàng; giới hạn về trạng thái ngoại hối mở; giới hạn đầu tư vào tài sản cố định so với vốn tự có. ➢ Các chỉ tiêu cụ thể được sử dụng để đánh giá mức độ vốn an toàn - Cơ cấu vốn, tập trung vào mức độ quan trọng tương đối của vốn cấp I, vốn cấp II: Vốn cấp II tối đâ bằng 100% vốn cấp I.
- Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của Ngân hàng. CAR >= 9%, tỉ lệ này cho chúng ta biết nguồn vốn có ổn định để cho vay hay không, nguồn vốn có đáp ứng nhu cầu vay hay không. Theo hiệp ước về vốn của Basel (basel I) thì tỉ lệ tối thiểu để bù đắp cho rủi 8 ro của hệ số CAR là 8%, ở NHNN Việt Nam qui định 9%. - Hệ số tài trợ hay hệ số đòn bẩy tài chính = Tổng nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu (trung bình = 12,5) Còn được gọi là D/E, tỷ lệ này phản ánh năng lực quản lý và qui mô tài chính của Ngân hàng.
Tỉ lệ này càng cao thì mức độ an toàn đới với người gửi tiền và củ nợ của Ngân hàng giảm. Hệ số này phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lâp về mặt tài chính của Ngân hàng. Hệ số càng cao thì khả năng tài chính và mức độ độc lâp về tài chính của Ngân hàng càng cao. - Trái phiếu (chứng khoán) chính phủ / Tổng tài sản Trái phiếu (chứng khoán) chính phủ là một trong những khoản đầu tư có tính thanh khoản an toàn nhất.
- Hệ số tao vốn nội bộ (internal capital generation) ICG (%) = Lợi nhuận không chia/ Vốn cấp 1 (>12%); Sau khi sử dụng các chỉ tiêu trên để đánh giá mức độ an toàn vốn, mô hình đi đến xếp hạng. Gồm có 5 hạng, hạng 3,4 và 5 là hạng mà các nhà lãnh đao Ngân hàng cần phải chú ý, hổ trợ từ các cổ đông,. A - Assets Quality (Chất lượng TS có) ➢ Nguyên tắc cơ bản của Chất lượng tài sản có Tài sản có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của Ngân hàng. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời, năng lực quản lý và phần lớn rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ.
TS Có của NHTM bao gồm tất cả các khoản mục bên phải của bảng cân đối TS, đó là: TS ngân quỹ, TS cho vay, TS đầu tư và TS cố định. Chất lượng TS là yếu tố quyết định hiệu quả HĐ KD của Ngân hàng. Trong tài sản có, chất lượng khoản cho vay và đầu tư là yếu tố quyết định đến chất lượng tài sản có của Ngân hàng. Tổn thất trong cho vay lớn sẽ dẫn đên thua lỗ, 9 làm giảm vốn tự có, làm ảnh hưởng đến khả năng chi trả và đây là biểu hiện của năng lực quản lý.
[3] Theo Grier (2007), “chất lượng TS yếu là nguyên nhân chính của hầu hết các vụ thất bại trong Ngân hàng”. Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay – cả trước kia cũng như hiện nay. Nếu thị trường biết rằng chất lượng TS kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của NH, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng TK, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở Ngân hàng. Tài sản có của Ngân hàng bao gồm tài sản có khả năng sinh lời và tài sản không sinh lời.
Đánh giá chất lượng của tài sản có, trước hết phải xem xét tính hợp lý trong cơ cấu của tài sản có để đáp ứng tốt yêu cầu lợi nhuận cũng như đảm bảo khả năng thanh khoản. Sau đó sẽ đánh giá chất lượng tài sản có thông qua khả năng hoạt động tín dụng. Thông thường hoạt động này được đánh giá dựa trên tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì các TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm: (1) Nợ đủ tiêu chuẩn, (2) Nợ cần chú ý, (3) Nợ dưới tiêu chuẩn, (4) Nợ nghi ngờ, (5) Nợ có khả năng mất vốn.
Nợ xấu bao gồm nợ ở các nhóm 3, 4, 5. Mức trích lập dự phòng nợ và khả năng có thể xử lý và thu hồi các khoản nợ xấu chính cũng cần được xem xét để đánh giá chất lượng danh mục cho vay. Để đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu TS Có của một NHTM có thể sử dụng 02 hệ số cơ cấu sau: - Hệ số cơ cấu tỷ lệ của 04 nhóm TS Có: Ngân quỹ, cho vay, đầu tư và TS cố định. Qua chỉ số này người ta có thể nhận định tính hợp lý của việc sử dụng vốn của Ngân hàng.
Ngân hàng nào tỷ trọng TS cho vay và TS đầu tư càng lớn với điều kiện đảm bảo những tỷ lệ thích đáng cho TS ngân quỹ và TS cố định thì cơ cấu TS của NH đó càng hợp lý. - Hệ số cơ cấu tỷ lệ của 02 nhóm TS Có sinh lời và TS Có không sinh lời. Hệ số này cho phép nhận định mức độ tận dụng các nguồn vốn của Ngân hàng để tối đa 10 hoá LN.