Chương I, Thông tư 39 [7]: Tổ chức tín dụng thẩm định khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của khách hàng theo quy định tại Điều 7 Thông tư này để xem sét quyết định cho vay. Trong quá trình 15 thẩm định, tổ chức tín dụng được sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, kết hợp với các thông tin tại trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia tại Việt Nam, các kênh thông tin khác. Tổ chức tín dụng phải xét duyệt cho vay theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Trường hợp quyết định cho vay, tổ chức tín dụng thông báo cho khách hàng lý do khi khách hàng có yêu cầu.
Phân loại nợ Theo Điều 10, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định 1. Quy định về phân loại nợ - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Các khoản nợ trong thời hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; Trường hợp khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng một năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn theo thời gian đã được cơ cấu lại, tổ chức tín dụng có thể phân loại lại khoản nợ đỏ vào nhóm này. - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại.
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được; 16 Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với tổ chức tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro. Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giả là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro. Cả 2 trường hợp này tùy theo mức độ mà có thể xếp vào nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 cho phù hợp. Quy định về trích lập dự phòng rủi ro Theo Điều 12, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định - Nhóm 1: 0% - Nhóm 2: 5% - Nhóm 3: 20% - Nhóm 4: 50% - Nhóm 5: 100% 17 1.
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gồm có: rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk). Trong đó, rủi do danh mục được chia làm 2 loại đó là: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk).
Rủi ro nội tại được hiểu xuất phát từ mỗi cá nhân đi vay. Rủi ro tập trung được hiểu mức dư nợ còn lại cho mỗi cá nhân. Rủi ro giao dịch được chia làm 3 phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: + Rủi ro lựa chọn: liên quan đến thẩm định, phân tích tín dụng + Rủi ro đảm bảo là rủi ro xuất phát từ các tiêu chí đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến các hoạt động quản trị cho vay.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng Một rủi ro xảy ra luôn có nguyên nhân từ nhiều phía. Ở đây chúng ta cùng tìm hiểu nguyên nhân từ phía Khách hàng đi vay. Các nguyên nhân khách quan bên ngoài dẫn đến việc xảy ra rủi ro trong tín dụng. Nguyên nhân từ khách hàng Người đi vay sử dụng vốn vay vào các mô hình có rủi ro cao hoặc phát sinh vấn đề tiêu cực về sức khỏe, công việc.
Mâu thuẫn gia đình dẫn đến việc mất cân bằng trong quản lý tài chính cá nhân. Từ đó khác hàng không có khả năng chi trả khoản nợ vay cho Ngân hàng. Cá nhân khách hàng vay mua sắm tiêu dùng vào tiêu sản. Nhưng không có khả năng cân bằng giữa thu nhập cá nhân mang tính ổn định.
Các khoản chi tiêu thiết yếu dẫn đến việc hao hụt tài chính gây khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. 18 Doạnh nghiệp vay mở rộng sản xuất hoặcđầu tư lĩnh vực khác nhưng không tìm hiểu kỹ thị trường. Tham nhũng trong nội bộ khả năng lãnh đạo và xử lý biến cố còn non trẻ dẫn đến việc hao hụt tài sản thậm chí doanh nghiệp phá sản gây khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn. Do bản thân cá nhân hoặc tổ chức doanh nghiệp có mục đích chủ ý giả mạo các thông tin.
Chứng từ nhằm chiếm dụng vốn của Ngân hàng hoặc Tổ chức tài chính. Nguyên nhân khách quan Bên cạnh những nguyên nhân từ chính người vay gây ra thì cũng có những nguyên nhân khách quan dẫn đến như: +Sự thay đổi bất thường của hệ thống pháp lý trong ngành Tài chính – Ngân hàng. Hoặc các chính sách bổ sung tại từng thời điểm của chính phủ các nước. +Do bão lũ thiên tai, dịch bệnh xảy ra gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu khiến lạm phát tăng cao người dân không thể ứng phó kịp với thị trường.
+Cũng có thể do hệ thống pháp lý trong ngành còn nhiều kẽ hở. Chưa có tính răn đe trong việc xử lý nợ xấu nợ quá hạn. Tác động của rủi ro tín dụng Tác động đến hoạt động kinh doanh của NH: Khi rủi ro tín dụng xảy ra, NH không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng NH phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho NH mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho NH kinh doanh không hiệu quả, chi phí của NH tăng lên so với dự kiến. Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi, thì NH phải sử dụng các nguồn vốn để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, NH không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản.
Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của NH ngày càng xấu, có thể dẫn NH đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản, nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Tác động đến nền kinh tế xã hội: NHTM là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cả nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra, thì không những NH chịu 19 thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Khi một NH gặp rủi ro tín dụng với mức độ lớn, sẽ ảnh hưởng đến người gửi tiền làm cho họ hoang mang, lo sợ và kéo nhau đến rút tiền, không những ở NH có sự cố mà còn ở những NH khác, làm cho toàn bộ hệ thống NH gặp phải khó khăn.
Khủng hoảng thanh khoản xảy ra và ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống NH. Hệ thống NH bị ảnh hưởng, hoạt động không hữu hiệu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Nó có thể làm cho nền kinh tế bị suy giảm, lạm phát tang, , thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Tóm lại, rủi ro tín dụng của các NH xảy ra ở những mức độ khác nhau, rủi ro cấp độ nhẹ cũng làm cho NH bị giảm lợi nhuận, rủi ro ở cấp độ nặng làm cho NH không thu đủ vốn lãi, hoặc bị mất cả vốn lẫn lãi, dẫn đến NH bị thua lỗ.
Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, NH sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống NH nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị NH phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG RỦI RO TÍN DỤNG 1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cấp tín dụng 1.