phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2:Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Đống Đa giai đoạn 2021 – 2025 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 MỤC TIÊU CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN KINH DOANH Dựa vào những phân tích từ môi trƣờng bên trong ngân hàng nhƣ: các nguồn lực; mạng lƣới hoạt động; chính sách cho vay. và các cơ hội thách thức từ môi trƣờng bên ngoài nhƣ: môi trƣờng cạnh tranh và các yếu tố thuộc môi trƣờng vĩ mô, ngân hàng có thể đặt ra các mục tiêu cụ thể nhƣ sau: - Tăng trƣởng quy mô, phát triển thị phần: Đây là mục tiêu mà các ngân hàng thƣơng mại thƣờng ƣu tiên hàng đầu.
Để thực hiện đƣợc mục tiêu này đòi hỏi các NHTM cần phải nắm chắc đƣợc diễn biến của thị trƣờng đồng thời linh hoạt trong việc đề ra các chính sách cạnh tranh, chính sách kinh doanh để từ đó có thể giữ đƣợc chân khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới tới ngân hàng. Họp lý hóa cơ cấu cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh: Mục tiêu này đƣợc đƣa ra nhằm hỗ trợ cho việc phát triển ngân hàng đồng thời giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Trong ngân hàng, hoạt động cho vay đƣợc áp dụng cho nhiều đối tƣợng khác nhau, từ khách hàng doanh nghiệp cho tới khách hàng cá nhân nói chung hay là khách hàng cá nhân kinh doanh nói riêng đều quan trọng, nhƣng việc xác định mức độ tối ƣu sẽ giúp cho ngân hàng thƣơng mại có thể tiết kiệm chi phí đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất. - Nâng cao chất lƣợng dịch vụ cho vay, ổn định vững chắc thị phần: Việc đặt ra mục tiêu này nhằm giữ chân đƣợc khách hàng hiện tại.
Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay giữa các ngân hàng, thì việc ổn định vững chắc thị phần là một mục tiêu không kém phần quan trọng. Để làm đƣợc điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao chất lƣợng dịch vụ của ngân hàng, gia tăng sự hài lòng cũng nhƣ lòng trung thành của khách hàng hiện tại. 11 - Kiểm soát rủi ro cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh: Mục tiêu này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng, mà còn góp phần mang lại lợi ích cho cả khách hàng cá nhân vay kinh doanh cũng nhƣ cho nền kinh tế nói chung. Đã có quá nhiều bài học kinh nghiệm rút ra từ những trƣờng họp cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh nhƣng không đủ khả năng trả nợ dẫn tới những hệ lụy chung cho các bên.
- Tăng trƣởng thu nhập cho ngân hàng: Mục tiêu chung của mọi doanh nghiệp hay các ngân hàng thƣơng mại là tăng trƣởng doanh thu và lợi nhuận cho mình. Do đó, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh phải đạt đƣợc mục tiêu phù hợp với mục tiêu chung nhất của ngân hàng đó là tăng trƣởng doanh thu, tăng trƣởng lợi nhuận. Từ các mục tiêu trên, tùy tình hình cụ thể từng thời kỳ, của bối cảnh kinh doanh và điều kiện của mình mà các ngân hàng thƣơng mại có thể lựa chọn các mục tiêu ƣu tiên.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay của Ngân hàng Thương mại Trong các nghiệp vụ của ngân hàng thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của NHTM trong đó NHTM thoả thuận với khách hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định, có lãi suất và phải hoàn trả.
Nghiệp vụ tín dụng mang lại lợi tức nhiều nhất cho ngân hàng nhƣng đồng thời cũng tiềm ẩn các rủi ro rất lớn cho NHTM, nên các NHTM cần có nhiều sản phẩm tín dụng khác nhau để cung ứng cho khách hàng và phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp để ngăn ngừa rủi ro. Theo thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nƣớc, định nghĩa Cho vay nhƣ sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc 12 có hoàn trả cả gốc và lãi. Khái niệm khách hàng cá nhân kinh doanh Theo quy định tại Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2015 và Điều 2 Thông tƣ 39/2016/TTNHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngày 31/12/2016 khách hàng CNKD là chủ thể kinh doanh do cá nhân hoặc một cá nhân đại diện cho một hộ gia đình làm chủ đủ từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc đủ từ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, chỉ đƣợc đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mƣời lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Cá nhân sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, làm muối và những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lƣu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trƣờng hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện.
Uỷ ban Nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phƣơng. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh Theo Nguyễn Minh Kiều (2008): “Cho vay khách hàng CNKD của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng CNKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Khoảng thời gian nhất định đƣợc hiểu là thời hạn cho vay. Ngân hàng và khách hàng CNKD căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng CNKD, nguồn vốn vay của NHTM để thỏa thuận thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian đƣợc tính từ ngày tiếp theo của NHTM giải ngân vốn vay cho khách hàng CNKD cho đến thời điểm khách hàng CNKD phải trả hết nợ gốc và tiền lãi vay theo thoả thuận của NHTM và khách hàng CNKD.
Trƣờng hợp ngày cuối cùng của thời hạn cho vay là ngày lễ hoặc ngày 13 nghỉ trong tuần, thì chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Đối với thời hạn cho vay không đủ một ngày thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về thời điểm bắt đầu thời hạn. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh - Quy mô của khoản vay thƣờng nhỏ lẻ: Quy mô kinh doanh của cá nhân thƣờng không lớn do đó khách hàng cá nhân kinh doanh đa phần tập trung ở các ngành nghề nhỏ lẻ, yêu cầu về trang thiết bị kỹ thuật thấp, vốn đầu tƣ ban đầu không lớn, do đó nhu cầu vay vốn của các khách hàng cá nhân kinh doanh chỉ ở mức trung bình, nhỏ, đáp ứng đủ nhu cầu về buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ hoặc nuôi trồng, chăn nuôi, sản xuất ở quy mô vừa và nhỏ. - Số lƣợng các món vay nhiều: Hiện nay, số lƣợng món vay của khách hàng cá nhân kinh doanh đang dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số món vay của NHTM.
Với nền kinh tế thị trƣờng, Việt Nam đang dần phát triển mở ra rất nhiều loại hình kinh doanh, tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển kinh doanh, theo đó nhu cầu vay vốn đặc biệt là các khoản tín dụng trung bình và nhỏ tăng lên rất nhiều đã dẫn đến sự tăng mạnh về số lƣợng các món vay của khách hàng cá nhân kinh doanh tại các NHTM trong nƣớc. - Mức độ phân tán các khoản vay rất rộng: Với sự đa dạng, các loại hình kinh doanh trải rộng ở rất nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, nông thôn đến kinh doanh buôn bán nhỏ… địa bàn hoạt động của khách hàng cá nhân kinh doanh ở khắp các vùng miền từ nông thôn cho đến thành thị, nơi nào có thể sản xuất kinh doanh với các loại hàng hoá, sản phẩm hoặc kinh doanh thì nơi đó đều có thể cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh. - Thủ tục của khoản vay đơn giản, gọn nhẹ: Tâm lý chung của khách hàng cá nhân kinh doanh thƣờng ngại các thủ tục rƣờm rà, thời gian làm thủ tục kéo dài, đồng thời phải tiết kiệm chi phí, do vậy yêu cầu về các thủ tục trong việc vay vốn của Ngân hàng cần phải đơn giản, tiết giảm các yêu cầu về giấy tờ tối giản nhất, tránh để khách hàng đi lại nhiều lần gây lãng phí thời gian, tiền bạc của khách hàng và NHTM. 14 - Việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn: Với đặc thù là kinh doanh nhỏ lẻ, các loại hình kinh doanh rất đa dạng, phức tạp, phân bố rộng khắp địa phƣơng đồng thời sổ sách hoạt động của khách hàng cá nhân kinh doanh không đƣợc thực hiện nghiêm túc hoặc không có; việc kiểm tra giám sát khoản vay trƣớc, trong và sau khi cho vay gặp rất nhiều khó khăn đối với cán bộ quản lý khách hàng trong công tác thấm định, theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh cũng nhƣ những biến động bất thƣờng của khách hàng.
- Chi phí tổ chức cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh cao: Do điều kiện quy mô khoản vay của khách hàng cá nhân kinh doanh khá nhỏ so với các khoản vay doanh nghiệp, trong khi đó chi phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát khách hàng khách hàng cá nhân kinh doanh khá lớn, việc thu thập thông tin về khách hàng cá nhân kinh doanh cũng gặp rất nhiều khó khăn do tính chất phân tán, đa dạng dẫn đến chi phí cho vay tính trên một đồng vốn đối với khách hàng cá nhân kinh doanh khá cao.