đặt vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết khi thành lập một hộ kinh doanh: quy mô hộ kinh doanh không quá 10 ngƣời, thủ tục thành lập đơn vị kinh doanh đơn giản, cách quản lý thuế theo hình thức thuế khoán, không cần tập hợp hóa đơn, ghi chép sổ sách…Đó cũng chính là những điều kiện thuận lợi mà Nhà nƣớc tạo ra để khuyến khích cho các hộ kinh doanh phát triển. Bên cạnh đó, qua một số số liệu thống kê thực tế về tình hình phát triển hộ kinh doanh: năm 2014, lực lƣợng lao động trong khu vực hộ kinh doanh chiếm 41,15% lực lƣợng lao động toàn xã hội, nó góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập… cho ngƣời lao động; khu vực kinh tế cá thể chiếm gần 33% GDP. Có thể thấy rằng khu vực kinh tế cá thể là một thành phần kinh tế vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, nó chính là kênh phân phối và lƣu thông hàng hóa quan trọng, giúp cân đối thƣơng mại và phát triển kinh tế địa phƣơng. Ngoài những điều kiện thuận lợi kể trên, các hộ kinh doanh cũng gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt đó là thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn vay.
Tác giả cũng nêu một số nguyên nhân cơ bản của tình trạng này: không có tài sản thế chấp, không có tƣ cách pháp nhân, khả năng tiếp cận thị trƣờng và nguồn thông tin, tiếp cận với cơ quan Nhà nƣớc, công nghệ bao gồm công nghệ quản lý, kinh doanh và công nghệ thông tin, năng lực quản lý chƣa hiệu quả do hạn chế về trình độ quản lý. vì thế các hộ kinh doanh rất khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Nếu có vay đƣợc thì số lƣợng vay cũng không nhiều và thời hạn vay cũng rất ngắn. Từ thực trạng kể trên, tác giả cũng đƣa ra một số kiến nghị và đề xuất với mong muốn hộ kinh doanh sẽ đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng và nƣớc nhà: Nhà nƣớc cần có cơ chế và 6 chính sách hỗ trợ cụ thể, đơn giản hóa các thủ tục vay vốn; cần có sự liên kết giữa các hộ kinh doanh với nhau để tạo thành hiệp hội ngành nghề; hộ kinh doanh cần thay đổi quan niệm và nhận thức truyền thống; nhanh chóng tiếp cận và nâng cao trình độ quản trị tài chính, mạnh dạn trau dồi và trang bị các công cụ quản trị tài chính chuyên nghiệp.
Tóm lại, bài báo đã nhìn nhận một cách khái quát về hoạt động phát triển hộ kinh doanh trong thời gian gần đây, tác giả phân tích từ lý thuyết đến thực tiễn nguyên nhân tại sao hộ kinh doanh chƣa phát triển mạnh mẽ. Và đặc biệt đƣa ra nguyên nhân chính đó là do thiếu vốn và gặp nhiều bất cập trong việc huy động vốn từ các tổ chức tín dụng. Từ đó đƣa ra những giải pháp cơ bản để tháo gỡ những khó khăn này. Nguyễn Văn Thanh (2014), Chính sách tín dụng đối với hộ sản xuất: những vấn đề đặt ra, Tạp chí tài chính số 6 năm 2014.
Bài báo nêu lên vấn đề về chính sách tín dụng đối với hộ sản xuất, những khó khăn, thách thức còn tồn tại cần phải đƣợc giải quyết trong thời gian sắp tới. Trong bài, tác giả đã trình bày về Nghị định 41/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/04/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiếp đến, ngày 14/6/2010, Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành Thông tƣ 14/2010/TT-NHNN, hƣớng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 41/2010/ NĐ-CP. Theo đó, các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn, hợp tác xã, chủ trang trại đƣợc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản để thực hiện phƣơng án hoặc dự án sản xuất, kinh doanh thuộc các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo các mức nhƣ sau: tối đa đến 50 triệu đồng đối với đối tƣợng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ sản xuất nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp; tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; tối đa đến 500 7 triệu đồng đối với các hợp tác xã, chủ trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Qua đó có thể thấy Nhà nƣớc ta đang khuyến khích ngƣời dân phát triển kinh tế để từng bƣớc thay đổi diện mạo, góp phần nâng cao đời sống ngƣời dân. Trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cũng là đơn vị luôn dẫn đầu trong việc triển khai giải ngân nguồn vốn đến với hộ nông dân. Trên thực tế hoạt động cho vay tại ngân hàng cũng gặp những khó khăn nhất định: lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay biến động liên tục, các biện pháp kiềm chế lạm phát của ngân hàng nhà nƣớc…Vì vậy việc mở rộng vốn tín dụng của ngân hàng đối với hộ sản xuất hiện nay đang gặp phải những khó khăn. Tác giả đƣa ra 10 khó khăn đang gặp phải cần đƣợc phải giải quyết trong thời gian tới: môi trƣờng cạnh tranh hoạt động tín dụng ngân hàng chƣa sôi động, những rủi ro trong hoạt động sản xuất, quy hoạch tại các địa phƣơng còn thiếu hiệu quả, mối liên kết giữa đầu ra vào chƣa chặt chẽ, sự phối hợp giữa ngân hàng và các tổ chức chính trị - xã hội chƣa chặt chẽ, cấp tín dụng do Thống đốc NHNN quy định, bất cập về thực hiện cho vay theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP, nguyên nhân từ phía khách hàng hộ sản xuất và một số nguyên nhân khác.
Nhìn chung, bài báo đã đƣa ra đƣợc những vấn đề trong chính sách tín dụng đối với hộ sản xuất một cách cụ thể, chi tiết, rõ ràng. Tuy nhiên chính sách tín dụng này chỉ đang đƣợc phân tích với một ngân hàng điển hình, chƣa có nhìn nhận tổng quát trên toàn hệ thống ngân hàng thƣơng mại hiện nay. Nguyễn Thùy Dương (2017), Chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 24 năm 2017. Tác giả trình bày thực trạng chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, từ đó đánh giá những thành công 8 cũng nhƣ hạn chế còn tồn tại khi thực hiện chính sách này.
Trong phần thực trạng về chính sách tín dụng tác giả phân tích trên 2 khía cạnh: đối với các tổ chức tín dụng và đối với các hộ gia đình nông thôn. Đối với các tổ chức tín dụng, tác giả đã tổng hợp các văn bản của Chính phủ, Ngân hàng nhà nƣớc, Bộ tài chính ban hành về chính sách hỗ trợ các tổ chức tín dụng cho vay lĩnh vực ƣu tiên: văn bản 3228/NHNN/TD về hỗ trợ vốn cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đảm bảo nguồn vốn cho dự án tái canh cà phê, Nghị quyết số 14/NQ-CP về phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu xây dựng để triển khai Chƣơng trình thí điểm các mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp, Thông tƣ số 10/2015/TT-NHNN về hỗ trợ các TCTD có tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn lớn (từ 40% trở lên) thông qua tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Điều này cho thấy Nhà nƣớc đang hết sức quan tâm đến việc phát triển xây dựng nền kinh tế xanh. Đối với hộ gia đình nông thôn, tác giả cũng phân tích Nghị định 41 và Nghị định 55 về chính sách tín dụng.
Nghị định đã đƣa ra những quy định cụ thể ƣu đãi hơn đối với hộ gia đình về nguồn vốn cho vay, cơ chế đảm bảo tiền vay, thời hạn cho vay, cơ cấu lại thời hạn nợ và cho vay mới, lãi suất cho vay, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý rủi ro và bảo hiểm nông nghiệp. Từ thực trạng trên, những thành công mà chính sách tín dụng mang lại vô cùng to lớn: góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nông thôn mới, thu hút đƣợc đông đảo các tổ chức tín dụng thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, tạo nguồn vốn cho hoạt động tín dụng nông thôn, khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lƣới giao dịch, nâng cao khả năng tiếp cận vốn ngƣời dân. Bên cạnh đó là những hạn chế còn tồn tại: chƣa đáp ứng đƣợc hết nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn mới; các chính sách kể trên chủ yếu tập trung tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông 9 thôn và Ngân hàng chính sách xã hội; chính sách đầu tƣ vốn cho khu vực nông thôn mới và các chính sách của địa phƣơng, các Bộ, ngành nhiều khi chƣa đồng bộ, chính sách tín dụng chƣa thực sự tạo điều kiện đa dạng hóa hình thức cấp tín dụng nông thôn mới. Bài báo đã phân tích cụ thể, rõ ràng về những chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là chính sách đối với hộ gia đình trong xây dựng nông thôn mới.
Nó đã mang đến những kết quả quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển khu vực nông nghiệp - nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của nông dân. Bên cạnh đó, những chính sách này vẫn tồn tại một số bất cập và hạn chế cần đƣợc nghiên cứu, cải cách và khắc phục trong thời gian tới. Tuy nhiên, bài báo chỉ giới hạn bó hẹp trong việc phân tích chính sách tín dụng đối với hộ gia đình nông thôn, vì thế tác dụng tham khảo cũng chỉ có giới hạn nhất định. Trong 3 năm gần đây trên các tạp chí khoa học nhƣ: Tạp chí Kinh tế phát triển (Đại học Kinh tế Quốc dân), Tạp chí Phát triển Kinh tế (Đại học Kinh tế TP.HCM), Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Đà Nẵng) không có những bài báo viết về hoạt động cho vay hộ kinh doanh.
Các luận văn thạc sĩ Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo và kế thừa những kết quả nghiên cứu có tính thực tiễn cao, rút kinh nghiệm từ những vấn đề còn tồn tại, từ đó tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện thêm cho luận văn của mình. Cụ thể nhƣ sau: a. Đề tài: “Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Krông Năng – Buôn Hồ”. Tác giả: Hoàng Anh Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng, (2015).