CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái quát về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Định nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế - Thống kê – Kinh tế lượng Anh – Việt”, Nguyễn Khắc Minh đã định nghĩa hiệu quả trong kinh tế là “mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Cũng theo Nguyễn Việt Hùng (2008) thì “hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý… nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
Như vậy, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh không chỉ đơn thuần là xem kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh hay thu nhập của doanh nghiệp là cao hay thấp mà là việc đi sâu nghiên cứu theo yêu cầu của hoạt động quản lý kinh doanh căn cứ vào tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế bằng phương pháp thích hợp, so sánh số liệu và phân giải mối liên hệ nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả HĐKD. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là công cụ nhận thức để cải thiện các hoạt động trong kinh doanh một cách tự giác và có ý thức phù hợp với điều kiện cụ thể và yêu cầu của các quy luật khách quan, đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Tầm quan trọng của việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh, ở bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào, hình thức hoạt động nào cũng không sử dụng hết những tiềm năng sẵn có, đó là khả năng tiềm ẩn chưa phát hiện được. Chỉ có phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mới giúp nhà quản trị phát hiện, khai thác những khả năng tiềm tàng này nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đặc biệt đối với ngân hàng, việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển và an toàn của ngân hàng. Đây là 8 cơ sở để ban lãnh đạo ngân hàng phát hiện những lĩnh vực kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận trong tương lai, hạn chế tối thiểu rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh tiền tệ. Thông qua đó để đưa ra chiến lược kinh doanh thích hợp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng giá trị ngân hàng. Đồng thời phân tích đánh giá cũng giúp nhận biết, đánh giá, dự đoán các rủi ro để đưa ra các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu, kiểm soát rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh.
Không chỉ với bên trong ngân hàng, việc phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh còn có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài ngân hàng. Nhà đầu tư muốn lựa chọn đầu tư vào ngân hàng có thể xem xét qua kết quả phân tích, đánh giá để thu thập thông tin về tình hình hoạt động ngân hàng, giúp đưa ra quyết định đầu tư. Các cá nhân, tổ chức cũng có thể dựa vào các phân tích đánh giá để chọn ngân hàng đặt niềm tin với các quyết định gửi tiền, vay vốn hay thực hiện các giao dịch khác với ngân hàng. Đối với các cơ quan quản lý thì phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng nói riêng, từ đó xây dựng điều chỉnh các chính sách quy định cho kịp thời, phù hợp để thúc đẩy phát triển, cảnh báo rủi ro với các biện pháp xử lý đúng đắn.
Phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh a. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ tiêu tài chính Các chỉ tiêu tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá. Phương pháp đánh giá hiệu quả HĐKD thông qua các chỉ số tài chính thường được áp dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có NHTM. Các nhóm chỉ tiêu tài chính bao gồm: - Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi: ROA, ROE, EPS, NIM, NNIM.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh - Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro hoạt động của ngân hàng. Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu. Tuy nhiên, mỗi chỉ tiêu tài chính chỉ phản ánh một khía cạnh trong hoạt động của NHTM một cách rời rạc mà không thể hiện rõ mối tương quan với nhau. Vì vậy, để khắc phục được nhược điểm này có thể áp 9 dụng mô hình CAMELS trong phân tích hiệu quả hoạt động.
Mô hình CAMELS được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả hoạt, rủi ro của các NH nói riêng và các TCTD nói chung gồm 6 chỉ tiêu: An toàn vốn (C), Chất lượng tài sản (A), Năng lực quản lý (M), Khả năng sinh lời (E), Khả năng thanh khoản (L) và Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S). Phương pháp phân tích hiệu quả biên Bên cạnh phương pháp truyền thống là phân tích các chỉ số tài chính, hiện nay để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, các nhà kinh tế đã sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NH. Phân tích hiệu quả cận biên được chia thành hai nhóm: tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số. Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp tiếp cận tham số dựa vào lý thuyết thống kê và/hoặc kinh tế lượng để chỉ ra dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, tập trung vào một biến ưu tiên.
Hạn chế của phương pháp này là nếu xác định dạng hàm sai thì kết quả tính toán sẽ ảnh hưởng ngược lại đến các chỉ số hiệu quả nên đòi hỏi người sử dụng phải có một số kiến thức toán học nhất định. Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp tiếp cận phi tham số dựa vào chương trình tuyến tính toán học, ít bị giới hạn bới biến ưu tiên. Cách tiếp cận phi tham số hướng đến việc bao bọc dữ liệu thu thập từ các đơn vị chọn làm mẫu để đo lường mắc sản xuất và chi phí tối ưu cho toàn bộ mẫu. Phương pháp này linh hoạt hơn phương pháp tiếp cận tham số trong phân tích hiệu quả dựa trên nhiều dữ liệu đầu vào và đầu ra.
Ưu điểm của phương pháp này là cho phép so sánh và đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng, xác định chỉ số hiệu quả cho từng ngân hàng. Phương pháp tiếp cận phi tham số bao gồm: Phương pháp phân tích bao dữ diệu (DEA - Data envelopment Analysis) và Phương pháp xử lý tham số tự do (FDH – Free Disposal Hull). Thường được sử dụng trong cách tiếp cận này là phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA. Phương pháp phân tích bao dữ liệu sử dụng kiến thức về mô hình toán tuyến tính để so sánh hiệu quả trong vận hành của một tập các đơn vị - đơn vị ra quyết định (DMU – Decision Making Units).
Phân tích bao dữ liệu DEA đo lường mức hiệu quả dựa trên chỉ số hiệu suất. chỉ số này phản ánh hoạt động vận hành của các đơn vị được so sánh. Phương pháp này có ưu 10 điểm hơn so với mô hình tham số. Thứ nhất, không yêu cầu phải xác định một dạng hàm cụ thể khi xây dựng đường biên sản xuất.
Thứ hai, đường giới hạn biên sản xuất được xây dựng trực tiếp từ dữ liệu quan sát thông qua hệ thống phương trình tuyến tính. Thứ ba, có thể áp dụng cho các đơn vị có nhiều đầu vào và nhiều đầu ra. Thứ tư, việc phân tích hiệu quả kỹ thuật giúp doanh nghiệp có thể tìm ra đầu vào không được tận dụng hiệu quả, nguyên nhân và mức không hiệu quả để tìm cách cải thiện. Tuy nhiên, phương pháp DEA cũng có những hạn chế đó là chỉ cho phép người nghiên cứu so sánh hiệu quả của các DMU trong cùng một mẫu/ tổng thể nghiên cứu nên kết quả có thể bị hiểu sai.
Việc tính toán khá phức tạp và kết quả ước lượng hoàn toàn phụ thuộc đặc điểm thống kê của các quan sát. Mô hình CAMELS trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm mô hình CAMELS Mô hình CAMELS là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình NH của Mỹ và được coi là khuôn khổ để các tổ chức trên toàn thế giới tuân theo khi đánh giá hiệu quả, rủi ro của các NH nói riêng và các TCTD nói chung. Mô hình CAMELS phân tích năm khía cạnh truyền thống được xem là quan trọng nhất trong hoạt động của một trung gian tài chính.
Năm lĩnh vực phản ánh các điều kiện tài chính và khả năng hoạt động nói chung của một TCTD. Nguồn gốc mô hình CAMELS Mô hình CAMELS được xây dựng ở Mỹ từ những năm 70 của thế kỷ 20 bởi Ủy ban giám sát của NH thanh toán quốc tế. CAMELS cho các nhà quản lý biết “tình hình sức khỏe của các NH”, là chữ viết tắt của 6 nhân tố mà theo nhận định của cộng đồng NH thế giới muốn duy trì được sự lành mạnh và ổn định cần có: Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản (Asset Quality), Khả năng quản lý (Management capacity), Khả năng sinh lời (Earning), Khả năng thanh khoản (Liquidity) và Mức độ nhạy cảm thị trường (Sensibility to market risk) - Nhân tố mới được áp dụng từ 1/1997 tại Mỹ. Kết quả phân tích đánh giá sẽ giúp các nhà phân tích chia hệ thống TCTD theo thang điểm từ 1 đến 5.
Các ngân hàng với xếp hạng 1 hoặc 2 được coi là tình hình 11 tài chính tốt, mối quan tâm giám sát cao, trong khi các ngân hàng với các xếp hạng 3, 4 hoặc 5 có mức độ tài chính xấu, không ổn định và mối quan tâm giám sát tài chính kém. Nội dung của mô hình CAMELS: a. Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy) Nguồn vốn của NHTM bên cạnh vốn huy động góp phân quan trọng vào doạt động kinh doanh, vốn tự có lại là cơ sở hình thành nên vốn huy động cũng như các nguồn vốn khác của ngân hàng.