CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÔNG NGHỆ PHUT VỮAVÀ HIỆU QUA CUA SU GIA TANG MA SAT THANH 1. Mục dich công nghệ phut vữa. Mục tiêu của việc phụt vữa xung quanh thân cọc là để đưa vữa vào bề mặt tiếp xúc giữa cọc (nhéi,barrette) và đất nền, thông thường thực hiện là dé làm tăng đặc tính ma sát của coc va tao ra phản ứng cao hơn dé chong lại độ lún dưới các điêu kiện tải trọng làm việc. Hình] 1: Bê mặt tiếp xúc cọc và vữa sau khi phut.
Công nghệ thi công cọc đồ tại chỗ được phụt vữa thành cọc. Dé thuận tiện cho việc bơm vữa vào bê mặt than cọc, các ông phut vữa được lap theo chu vi cọc từ cao độ mặt đât tới đáy của vùng cân được phụt vữa trong phạm vi của môi vung phụt vữa, các van hoặc các 10 phụt được gia công trên ông phut vừa. Vật liệu và thiết kế hỗn hợp vật liệu. Vita bao gồm xi măng Portland thông thường và các phụ gia theo quy định được trộn với nước theo trọng lượng đáp ứng các yêu cầu đặc tính của hỗn hợp.
Các thành phan của hỗn hợp vữa sé được đo lường riêng biệt theo trong lượng hoặc thể tích phù hợp. Số lượng mẫu vữa hình lập phương theo yêu cầu sẽ được lẫy mỗi cọc hoặc mỗi mẻ trộn dé thí nghiệm cường độ nén, hồ sơ quy trình sẽ được lưu giữ lại theo mẫu. Bảo quản vật liệu. Xi măng sẽ được cung cấp đến công trường trong bao được niêm phong kín, kèm theo chứng nhận của nhà sản xuất, ghi chủng loại, ngày sản xuất, thành phan và độ mịn.Toàn bộ xi măng phải được bảo quản can thận trong điều kiện không bị thắm nước.
Chuẩn bị thiết bị. Ong phut vữa. Ông phụt vữa bao gồm ống thép đen có đường kính danh định là 60mm, chiều day thành ống là 2mm, các ống này được gia công thanh ống phut vữa và ống cấp vữa. Ông phụt vữa được gia công chế tạo theo các đoạn có chiều dài phù hợp với các vùng phụt vữa theo yêu cau, cả ống phụt vữa và ống cấp vữa đều được lắp ống và nối tại một đầu dé thuận tiện hàn vào các ống bên cạnh.
Các ống phụt vữa được lắp vào hé khoan cùng với lồng thép, kiểm tra thang hàng và ống được hàn vào đúng vị trí, thông thường các kẹp chữ U được sử dụng để nối các ống vào bên ngoài lồng thép khi lỗng thép được hạ vào hồ khoan. Các ống sẽ được lắp theo các khoảng cách băng nhau xung quanh lông cốt thép ngoài, các điểm phụt vữa sẽ được lắp tại các khoảng cách xấp xi Im theo phương thăng đứng suốt chiều dài phut vữa.2: Vi trí lắp đặt ống phụt vita. Vữa được cấp vào vị trí phụt vữa thông qua ống HDPE có đường kính trong 1/2 in-sơ, một đầu của đường ống có đánh ren để nối với đầu phun.Đầu phun có nút bịt khí nén tích hợp 2 quả bóng bơm khí nén để bịt kín vành khuyên có áp mà qua đó vữa được phụt vào.Một ống vòi cao áp có đường kính nhỏ được gan vào vách của ống cấp vữa dé bơm căng các quả bóng thông qua một bơm tay, áp suất phụt vữa thông thường trong phạm vi 25-55 bar, Thông 4 thường các quả bóng được bơm căng tới áp suất xấp xỉ 60 bar trước khi phụt vữa. Phụt rữa ống phụt vữa.
Vì ống phut vữa được đúc trong coc, cần thiết phải tạo đường dẫn trong bê tông giữa ống phụt vữa và thành cọc trước khi bê tông đạt tới cường độ. Dé có tác dụng phụt rữa sạch ống phụt vữa, nut bit vữa được lắp vào đáy của ống phụt vữa và nhất lên từng đoạn Im theo trình tự từ đáy lên đỉnh trong phạm vi vùng phụt vữa. Trên thực tế, việc phụt rửa bằng nước đạt hiệu quả cao nhất vào thời điểm xấp xỉ 12 tiếng sau khi hoàn thành đồ bê tông. Tiếp theo quy trình “phụt vữa bang nước” ống phụt vữa lại được kiểm tra xác định chiều sâu và được vệ sinh sạch sẽ nếu cần thiết.
Sau đó các nắp đậy hai đầu được lắp vào. Lưu hồ sơ quy trình “phụt rữa băng nước”.3: Phut rửa ống phut vữa bằng nước có áp. Thiết bị trộn vữa. Thiết bị trộn vữa phải là thiết bị trộn vữa tốc độ cao có gắn với bơm tuần hoan- Bauer BM100 hoặc tương đương.
Máy trộn vữa: ZM1 Máy bơm: KP60 Bơm tay: T-50K Đồng hồ áp lực 1. Quy trình phụt vữa áp lực cao.5: Nguyên lý hoạt động của công tác phut vita. Khi ống phun vữa được hạ và đỗ bê tông cùng với cọc nhỏi, cần thiết phải làm thông vùng bê tông giữa ống phụt vữa và thành cọc trước khi bê tông đạt cường độ quá cứng.Để thực hiện quá trình này, các Packer được hạ xuống đến đáy của ống phun vữa và rút lên cách khoảng Im từ đáy lên cho đến hết vùng phụt vữa. Công tác phụt vữa phải được tiến hành sau khi bê tông đã hình thành cường độ nhưng không được quá cứng.
Công tác phụt vữa. Sau một khoảng thời gian xác định trước sau công tác thông van « Manchettes », công tác phụt vữa có thể tiễn hành, các nắp tạm sẽ được mở và kiểm tra lại chiều sâu của ống phụt vữa. Một lượng vữa yêu cầusẽ được bơm qua van « Manchettes » và đến bề mặt tiếp xúc giữa đất và coc, các packer sẽ được xả căng và di chuyển đến vị tri phụt vữa kế tiếp. Lượng vữa yêu cầu được bơm khoảng 35 (lit/m?) của bề mặt cọc.
công tác phụt vữa sẽ được dừng khi mà lượng vữa yêu cầu đạt được hoặc đat áp lực tôi đa là 60 bars.6: Trộn va bom vita. Hiệu qua phụt vữa lam gia tang ma sát thành xung quanh than coc. Ma sát thành nó phụ thuộc rất nhiều đến tiết diện ngang cũng như chu vi của thân cọc và đất nền xung quanh, khi thi công cọc khoan nhồi cũng như cọc barrtle, trong quá trình thi công cọc khoan lay đất ra sau đó lượng bentonite bơm vào là để giữ cho thân cọc không bị sạt lỡ, điều này làm ảnh hưởng rat nhiều đến sức kháng xung quanh thân cọc. Do đó biện pháp phụt vữa thân cọc sẽ tạo ra lớp vữa mới bao bọc và bó chặt xung quanh cọc nhằm làm gia tăng khả năng ma sát thân cọc, khi đó sức chịu tai của cọc cũng được gia tăng lên.
Sau khi thi công cọc hoàn thành , khoảng vài ngày sau thì công việc phụt vữa sẽ được thực hiện, ban đầu là làm nứt lớp bê tông bảo vệ bang tia nước có áp lực cao đi xuyên qua các ống phụt, khi đó nước chảy theo vết nứt của lớp bảo vệ cọc lan ra thành cọc làm xói lỡ lớp cát xung quanh đoạn phut,sau đó vữa hỗn hop xi măng sẽ được bơm với áp lực cao di xuống thành cọc và bó chặt cọc lại, làm gia tăng sức kháng cắt của cọc, nếu xét về mặt lý thuyết khi thêm vữa vào khu vực này đều là bàm dính vào thân cọc, có nghĩa là chu vi và diện tích đều tăng, dẫn đến ma sát thành cũng được gia tăng.7: Lớp vữa bao bọc và bó chặt xung quanh thân cọc sau khi phụt vita. SƠ LƯỢC VE LICH SỬ PHÁT TRIEN 1. Trên Thế Giới. Công nghệ phụt vữa có nguồn gốc từ việc sử dụng tia nước cao apdé cắt trong công nghiệp khai khoáng, so với các phương pháp khoan phụt vữa khác thì công nghệ phụt vữa áp lực cao xuất hiện là muộn nhất, đến thập niên 1950 mới được sử dụng, đầu tiên là ở Pakistan bởi công ty Cementation.
Vào giữa thập niên 1960, người Nhật bắt đầu tiếp cận và chỉ phát triển những khái niệm, cho đến năm 1965 theo nghiên cứu và cải tiến của anhem Yamakado, công nghệ không chỉ cắt xói mà còn để dính kết đất, ban đầu phát truyền nhằm mục dich chống tham va dé phòng rò rĩ(cần phụt bịt kín xung quanh khe hở với lỗ khoan). Đầu thập niên 1970, công nghệ có những cải tiễn hơn nhờ nghiên cứu của 2 nhóm chuyên gia Nhật Bản độc lập với nhau, nhóm đứng đầu bởi Nakanishi thuộc công ty Nissan Freeze đề xuấtphương pháp CCP (chemical churning pile), dùng vữa hóa chất cắt xói và trộn đất, vữa hóa chất được phụt qua các vòi với đường kính 1,2mm đến 2mm, nam ở mũi cần khoan đơn giản và quay trong khi phụt nhưng nhược điểm khó điều chỉnh chiều day. Với phương pháp phun đơn khi phụt dưới mực nước ngầm thì năng lượng xung kích của tai vữa nhanh chống tiêu hao. Vì thế, năm 1972 nhóm Nakanishi phát truyền phương pháp JSP (jumbo special pile), dùng khí nén bao xung quanh tia vữa để tạo thành cọc đường kính 0.Lớp đệm khí không chỉ giúp duy trì năng lượng tia vữa mà còn day đất bị cắt xói lên mặt đất, giảm nguy cơ nâng nên do ống thoát bùn bị tắt.
Khoảng năm 1980, phương pháp JSP (Jumbo special pile) kết hợp với phương pháp JGP (Jet grout pile) của một nhóm khác thành lập thành phương pháp nhan đôi JSG (Jumbo jet special grout). Đối thủ chính của nhóm Nakanishi đứng đầu Yahiro thuộc tập đoàn Kajima đã đưa ra phương pháp JG (Jet Grout) .vào năm 1970, dùng tia nước vận tốc cao,có định năm ngang để xói tơi đất lên và phun vữa lắp day dan dan từ dưới lên. Gitta thập niên 1970, hai phương pháp CCP và CJG cùng tham gia dự thi lam biện pháp 6n định tháp Pisa. phương pháp CCP là một trong biện pháp được trao giải và cũng được bắt đầu biết đến bởi các công ty xây dựng của Y.Năm 1974 Ý được sự chấp thuận của nhóm Nakanishi thành lập công ty CCP-Ý, sau đổi tên thành CCP-International, từ đó jet grouting được phô biến ở Châu Âu và những nơi khác trên thế giới,kinh nghiệm tích lũy và cải thiện về công nghệ giúp Jet Grouting nâng cao độ tin cậy và phát huy hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác 8 nhau.nhanh chống phô biến ở những nước có nhiều công trình xây dựng đường ham,khu công nghiệp, duy tu công trình cũ.
Jet grouting xuất hiện tại Mỹ từ năm 1979. ban đầu ít phổ biến, đến năm 1984 một số dự án nhỏ sử dụng thành công, nguyên nhân là do nghỉ ngờ tính an toàn công nghệ, thiếu cơ sở pháp lý, thất bại một số ứng dụng ban đầu, ứng dụng công nghệ hiệu quả còn thấp, sau đó một số đơn vị thực hiện thành công nhiều công trình. Đến thập niên 1990 pho biến tại Mỹ, với giá thành hạ,áp dụng hiệu quả nhiều điều kiện đất và nhiều mục đích ứng dụng khác nhau như: kiểm soát nước ngâm, ôn định khối đất nên, duy tu đập,bỊt day.