Chương 1 luận văn cung cấp ngắn gọn nền tảng của QKD và cũng xác định các khái niệm cơ bản về bảo mật trong các giao thức QKD.1 Vai trò của phân phối khoá lượng tử Hiện nay có rất nhiều thuật toán mã hoá hiện đại như chuẩn mã hóa tiên tiến (AES) rất khó bị phá vỡ nếu như không có khóa, nhưng hệ thống này có một nhược điểm là khóa phải được biết từ cả hai phía. Như vậy mọi thuật toán mã hoá, bài toán truyền thông kín quy về bài toán làm sao phân phối những khóa này một cách an toàn – bản tin được mã hoá có thể được an toàn gửi đi theo một kênh công khai. Giải pháp cho bài toán này là sử dụng một đối tượng mang an toàn để vận chuyển khóa từ nơi gửi đến nơi nhận như mô tả hình 1.1: Mô hình phân phối khoá 4 Giả sử, Alice muốn gửi cho Bob một tin nhắn bí mật, như một bản giao dịch ngân hàng, thông tin chính trị….trên một kênh truyền thông có thể không an toàn. Để làm việc này, Alice và Bob phải chia sẻ một khóa bí mật – đó là một số nhị phân dài.
Sau đó Alice có thể mã hóa tin nhắn của mình thành “mật mã” bằng một khóa chung với thuật toán mã hóa, ví dụ như AES. Mật mã sau đó có thể được truyền đi bằng một kênh dữ liệu bình thường, khi đó bên tấn công sẽ không thể hiểu được và Bob có thể sử dụng khóa đó để giải mã tin nhắn. Trái với phương pháp truyền thống của sự phân phối khóa, mật mã lượng tử đảm bảo sự an toàn của khóa đó. Khóa cũng có thể thường xuyên thay đổi, do đó làm giảm nguy cơ bị đánh cắp hoặc bị suy ra bởi một phép phân tích thống kê giải mã của mật mã.
Bất cứ phương pháp phân phối nào dựa trên con người cũng làm tổn hại các khóa do tự ý hoặc bị ép buộc tiết lộ. Trái lại, mật mã lượng tử hay sự phân phối khóa lượng tử chính xác hơn, mang lại một phương pháp tự động phân phối các khóa bí mật bằng sợi quang hoặc không gian tự do. Đặc trưng của phân phối khóa lượng tử là vốn dĩ an toàn: Giả sử rằng các định luật của thuyết lượng tử là đúng, thì chúng ta có thể chứng minh khóa đó không thể bị bên tấn công thu được mà không có sự phát hiện của người gửi và người nhận. Hơn nữa, phân phối khóa lượng tử cho phép khóa thay đổi thường xuyên, làm giảm nguy cơ mất trộm khóa hoặc “giải mã”, trong đó bên nghe trộm phân tích thông tin đánh cắp trong tin nhắn mã hóa để suy luận ra khóa bí mật.
Các vấn đề còn tồn tại trong việc tạo và trao đổi khóa trong mã hóa khóa đối xứng và mã hóa không đối xứng được giải quyết bằng khái niệm phân phối khóa lượng tử (QKD).2 Nguyên lý hoạt động giao thức phân phối khoá lượng tử Phân phối khóa lượng tử sử dụng các tính chất của cơ học lượng tử, dùng để phân phối khóa hệ mật mã đối xứng. Trước khi đến với phần mô tả về nguyên lý hoạt động của QKD, luận văn sẽ giới thiệu các khái niệm và nguyên tắc cơ bản cùng với mô tả về cơ học lượng tử được sử dụng để thực hiện phân phối khóa lượng 5 tử, từ những khái niệm vật lý cơ bản về cơ học lượng tử để khái quát hoá lên nguyên lý hoạt động của giao thức phân phối khoá lượng tử.1 Các khái niệm vật lý cơ bản về cơ học lượng tử a. Cơ sở vật lý hình thành mật mã lượng tử Những tính chất vật lý đặc biệt của cơ học lượng tử đã đặt nền móng lý thuyết cho một lĩnh vực mới - thông tin và tính toán lượng tử. Những tính chất đặc biệt đó của thông tin lượng tử cũng xây dựng nên một cơ chế mật mã mới – mật mã lượng tử.
Mật mã lượng tử (Quantum Cryptography – QC) với những đặc tính hoàn toàn khác với các cơ chế mật mã truyền thống, cho phép đảm bảo sự an toàn vô điều kiện cho các thông điệp gửi trên mạng. Mặc dù xây dựng các máy tính lượng tử là rất phức tạp và chưa khả thi trong một tương lai gần, nhưng việc gửi và nhận thông tin lượng tử đã được thực hiện thành công trên các hạt ánh sáng (photon). Thực chất vật lý lượng tử đã tham gia từ lâu vào sự phát triển của Tin học và Công nghệ thông tin vì tính chất của các Transistor khắc trên các vi mạch của các máy tính cá nhân ngày nay, phát minh từ năm 1947 bởi Bardeen, Brattain và Shockley, chỉ có thể lý giải bằng lý thuyết vật lý lượng tử. Tuy nhiên phải đợi đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà vật lý mới có khả năng tác động và quan sát các đối tượng lượng tử đơn lẻ như photon, nguyên tử, i-on,… Chính khả năng tác động và quan sát các hạt cơ bản này là nguồn gốc ra đời của ngành thông tin lượng tử, trong đó các đối tượng lượng tử nguyên tố sẽ cho phép xây dựng vật lý các bit lượng tử hay qubit.
Những nguyên lý cơ bản của vật lý lượng tử được sử dụng trong thông tin và mật mã lượng tử là: Nguyên lý bất định của Heisenberg: Người ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc của một hạt vào cùng một lúc. Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác. Định lý không thể sao chép (no-clonning): Dựa trên nguyên lý bất định, vì không thể biết chắc chắn trạng thái một hệ thống lượng tử, nên không thể sao chép hoàn hảo một hệ thống lượng tử bất kỳ. 6 Tính chất vướng víu lượng tử (entanglement): Một hệ thống lượng tử có thể tương liên với một hay nhiều hệ thống lượng tử khác.
Mỗi phân hệ sinh ngẫu nhiên ra trạng thái của mình và không một phân hệ nào có trạng thái cố định. Từ lâu, các nhà vật lý đã biết rằng ánh sáng vừa có bản chất hạt, vừa có bản chất sóng. Một photon có thể xem như một điện trường thu nhỏ dao động. Hướng dao động của điện trường được định nghĩa là sự phân cực của photon.
Một đặc tính của photon phân cực là khi người ta cho chúng đi qua một bộ lọc phân cực thì các photon, hoặc là bị bộ lọc hấp thụ, hoặc được truyền đi nhưng với sự phân cực của bộ lọc. Sau khi ra khỏi bộ lọc bị mất hoàn toàn thông tin về góc phân cực trước đó của photon, hay nói một cách khác, không thể sao lại trạng thái phân cực của một photon để thực hiện nhiều phép đo sự phân cực của photon với các bộ lọc phân cực khác nhau. Như vậy, khi cho một chùm photon đi qua một bộ lọc phân cực, các photon thu được sẽ có cùng mặt phẳng phân cực của bộ lọc. Đây chính là nguyên tắc lập mã cho photon.
Bộ lọc phân cực cũng được dùng để xác định trạng thái phân cực của photon. Ví dụ nếu nguồn photon chỉ gồm những photon có các góc phân cực 0° và 90° thì dùng một bộ lọc 0°, người ta có thể xác định được chính xác những photon 0° (qua) và 90° (không qua). Thao tác này gọi là phép đo phân cực của photon. Một cặp bộ lọc phân cực trực giao để lập mã hoặc đo photon được gọi là một cơ sở (base).
Người ta có thể sử dụng một cơ sở như vậy để biểu diễn các giá trị 0 và 1 bằng các photon. Hai cơ sở trực giao được sử dụng để mã hóa/đo các bit 0 và 1 cho các photon là: thẳng (0°/90°) - ký hiệu và chéo (45°/135°) - ký hiệu . Trong hệ cơ sở thẳng, các photon có góc phân cực 0° được tương ứng với bit 1, photon có phân cực 90° với bit 0. Tương tự trong hệ cơ sở chéo, các bit này sẽ tương ứng với các photon có góc phân cực lần lượt là 45° và 135°.
Theo lý thuyết, dễ thấy rằng nếu các photon không cùng cơ sở với bộ đo, chúng ta sẽ thu được kết quả hoàn toàn ngẫu nhiên. 7 Bằng những kết quả nghiên cứu mới, các nhà Vật lý đã chứng minh được rằng: việc sử dụng các tính chất kỳ lạ của vật lý lượng tử lại dẫn đến ứng dụng cụ thể đầu tiên của Thông tin lượng tử là truyền khóa mật mã hoàn toàn đảm bảo không thể tấn công. Quantum bit (Qubit) Một qubit (Quantum bit) hay bit lượng tử là một đơn vị thông tin lượng tử. Trong đó một qubit miêu tả một hệ cơ học lượng tử có hai trạng thái cơ bản thường được ký hiệu 0 và 1 tương ứng với hai trạng thái phân cực thẳng dọc và phân cực thẳng ngang của photon.
Sự khác biệt so với bit cổ điển là trạng thái cũng có thể ở dạng chồng chất cơ lượng tử của 0 và 1 : = 0 + 1 (1.1) Đối với trạng thái chuẩn hóa , các biên độ phức α và β bị giới hạn bởi điều kiện chuẩn hóa 2 + 2 = 1. Phương trình này phù hợp với hai vectơ cơ sở bất kỳ 0 và 1 của không gian Hilbert hai chiều của trạng thái . Đo lường lượng tử Đo lường lượng tử là hành động dùng các thiết bị trong lượng tử để quan sát trạng thái của các photon phân cực. Trong mật mã lượng tử, đo lường là một hành động không thể tách rời, dựa vào trạng thái phân cực của các photon để quyết định xem bit cổ điển tương ứng của trạng thái là 0 hay 1.
Một khái niệm cần quan tâm khi nghiên cứu cơ học lượng tử là cơ sở. Cơ sở được tạo thành từ cặp đôi trực chuẩn. Điều đó có nghĩa là nếu hai trạng thái | và trong cùng cơ sở * (có thể là cơ sở thẳng hoặc cơ sở chéo) luôn có tích vô hướng của hai vector bằng 0. Một trạng thái photon bất kỳ được đo trong cơ sở *, thì kết quả đo lường chỉ có thể cho là | hoặc .
Xét bốn trạng thái cơ bản của lượng tử là , , , , ta có tích vô hướng của hai vectơ trạng thái và bằng 0. Như vậy cặp , được gọi là cặp đôi trực 8 chuẩn, cặp đôi này tạo lên cơ sở thẳng . Tương tự từ , cũng là cặp đôi trực chuẩn tạo lên cơ sở chéo . Khi đo lường lượng tử, một photon phân cực được sinh ra trong cơ sở nào sẽ được đo lường đúng trong cơ sở đó.