CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TƯỜNG VÂY TRONG CÔNG TRÌNH NGẦM THEO PHƯƠNG PHÁP ĐÀO HỞ 1. Công trình ngầm theo phương pháp đào hở 1. Khái quát về công trình ngầm đô thị Trước tình hình đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay, thì nhu cầu xây dựng các công trình ngầm đang là xu hướng của mọi đô thị, mọi quốc gia trên toàn thế giới. Tốc độ phát triển đô thị rất nhanh ở các thành phố lớn của nước ta như Thủ đô Hà Nội, TP.HCM trong những năm qua làm cho diện tích đất xây dựng ngày càng bị thu hẹp đáng kể.
Để đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ cho đời sống dân sinh ở các thành phố đã và đang khai thác không gian ngầm dưới mặt đất như công trình dân dụng từ 4-6 tầng hầm, công trình giao thông sử dụng tàu điện ngầm sâu dưới mặt đất đến hàng chục mét. Các công trình ngầm trong đô thị thường gồm các loại sau: - Đường hầm giao thông: hầm đường bộ, hầm đường sắt, hầm vượt song, hầm bộ hành, … Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 12 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Hình 1.1: Hầm Thủ Thiêm - Công trình ngầm dân dụng: Hầm các tòa nhà, trung tâm thương mại, quảng trường ngầm, gara ô tô ngầm,… Hình 1.2: Hầm để xe của tòa nhà 174 TH - Các công trình ngầm khác: hầm thông tin liên lạc, hào kỹ thuật, Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 13 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Hiện nay, quá trình đô thị hóa diễn ra càng nhanh chóng thì vấn đề đặt ra là thiếu quỹ đất, do đó việc xây dựng các công trình ngầm là vô cùng cấp thiết và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng mặt. Tổng quan các phương pháp xây dựng công trình ngầm đô thị Công trình ngầm chủ yếu được thi công bằng 2 phương pháp: đào kín và đào hở. Phương pháp đào kín thường chỉ sử dụng cho các công trình đường hầm giao thông, còn lại các công trình ngầm đô thị, không gian ngầm đô thị khác thường được thi công bằng phương pháp đào lộ thiên (đào hở) hoặc phương pháp đào và lấp (cut and cover construction) 1.
Đối với phương pháp đào kín: + Ưu điểm: Cơ giới hóa, tăng cao tốc độ thi công và tốc độ mở hầm Tiết kiệm chi phí liên quan, cho phép giảm giá thành xây dựng trung bình 20-30%. Đặc biệt sử dụng máy mở hầm có hiệu quả khi chiều dài hầm lớn hơn 1. + Nhược điểm: Không thể áp dụng trong điều kiện địa chất thay đổi trong phạm vi đủ rộng Đòi hỏi tay nghề của nhà thầu, mặc dù số lượng công nhân ít hơn nhưng đòi hỏi chất lượng tay nghề cao hơn. Ngoài ra còn có các vấn đề bảo hành, sửa chữa máy móc thi công Suất đầu tư ban đầu khá cao, cụ thể là vốn đầu tư máy móc, do đó số lượng nhà thầu thi công còn ít, chủ yếu là các nhà thầu nước ngoài có đủ điều kiện kinh tế.
Đối với phương pháp đào hở: + Ưu điểm: - Có thể sử dụng máy làm đất và máy thi công khác nhau với mức cơ giới hoá cao, - Có thể thi công hố đào sát tới tường ngoài của công trình ngầm hiện hữu, Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 14 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Thi công chống thấm cho công trình ngầm đơn giản và có chất lượng. - Phương pháp đào mở sẽ có nhiều ưu việt khi công trình ngầm có diện tích lớn trên mặt bằng và không sâu lắm và thường được chọn dùng trong những điều kiện địa chất như : Trong nền đất có đá lăn mồ côi, hay trong sỏi sạn; Trong đất cát bão hoà nước đến độ sâu 6 - 7m; Trong đất có độ ẩm tự nhiên đến độ sâu 10 - 11m; Trong đất sét bão hoà nước đến độ sâu 10 - 12m; Trong đất sét đến độ sâu 13 - 16m. [19] Máy móc thi công phổ biến, được áp dụng rộng rãi + Nhược điểm: Không cơ giới hóa, tiến độ thi công và mở hầm không cao Không an toàn, có thể xảy ra hiện tượng sập đổ khi hệ thống tường vây và hệ thống chống đỡ không đủ khả năng chịu lực - Chiếm đất nhiều, ồn và dễ gây ách tắc giao thông. Có thể hạn chế bớt ảnh hưởng không tốt nói trên khi dùng phương pháp đào của ngành mỏ bằng cách làm các tường vĩnh cửu của công trình ngầm trước, làm nắp của hầm đủ chắc chắn để phương tiện giao thông đi lại trên đó và công tác khác trên mặt đất cũng có thể thực hiện trên nắp công trình ngầm.
- Trong đất sét yếu và đất bụi, việc đào hào sẽ bị hạn chế do phải duy trì ổn định vách hố và đáy hố, nên đòi hỏi phải thi công nhanh gấp. - Sự gò bó trong vạch tuyến khi phải bám theo đường phố hiệu hữu, đặc biệt là bán kính cong nhỏ khi mở tuyến tàu điện ngầm. Một số nơi hào đào lấn vào móng công trình hiện hữu làm cho nó kém đi về chịu lực hoặc biến dạng, nên phải gia cường chống đỡ thêm, gây tốn kém. Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 15 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên - Tiến độ thi công và giá thành của phương pháp đào - lấp bởi có nhiều việc phải làm thêm do những sai sót khi khảo sát điều tra hoặc đánh dấu vì chúng chỉ được phát hiện lúc đào, di dời hoặc phải đặt lại hệ thống kỹ thuật đô thị hiện đang khai thác (cáp điện, thông tin, ống cấp thoát nước.
) là vấn đề khá phức tạp, kéo dài tiến độ thi công. - Chuyển vị của đất và lún các công trình hiện hữu. Các phương pháp làm giảm sự trồi đáy hay giảm đào lẹm cũng như sự thay đổi dòng chảy và mực nước ngầm. đều dẫn đến những trở ngại trong tiến độ thi công và thay đổi giá thành.
Dùng neo đất, thanh chống có lắp kích để căng chỉnh là những giải pháp có hiệu quả đối với công trình nhạy lún hoặc công trình cũ ở lân cận hố đào. - Việc di dân để giải phóng mặt bằng dành chỗ cho công trình cũng như cho sân bãi công trường xây dựng, tổ chức lại các tuyến giao thông, ồn, chấn động, bụi. khi thi công thường là những vấn đề xã hội - kinh tế khó giải quyết nhanh gọn để công trình khởi công đúng hạn. Đối với phương pháp đào hở, nhất là đối với các công trình có chiều sâu đào lớn thì tiêu chí kỹ thuật thiết yếu đặt ra là giữ ổn định thành vách đào.
Do vậy nội dung kỹ thuật quan trọng và chủ đạo của phương pháp này là phải xây dựng được hệ thống tường vây (diaphgram) – tường vây cho hố đào sâu (diaphgram for deep excavation). Tường vây cho công trình ngầm thường bao gồm các loại: tường vây cọc ván thép, tường ống thép có neo, tường barrette, … Tường vây cọc cừ: sử dụng các loại cọc bê tông, cọc thép làm tường chắn. Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 16 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Hình 1.3: Tường vây cọc ván thép Tường vây ống thép có khóa nối: sử dụng các ống thép nối với nhau bằng liên kết khớp Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 17 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Hình 1.4: Cọc ván ống thép có khóa nối Tường vây cọc Barrette: là loại cọc khoan nhồi BTCT được thi công bằng gầu ngoạm Hình 1.5: Tường vây cọc Barrette 1. Tường vây trong thi công công trình ngầm 1.
Tường vây với cọc cừ đơn hoặc kép Thường có 4 loại cừ bản thép sau đây: Cừ thép bản phẳng: Ký hiệu SP-1, loại cừ này có mô men kháng uốn không lớn, chiều dài chế tạo 8 - 22m Cừ máng thép : Ký hiệu SP-2, chiều dài chế tạo 8 - 22m thường sử dụng cho các loại kết cấu chống thấm (đê quai, móng đập) công trình xây dựng; Cừ thép chữ Z : Ký hiệu SK-1, SK-2, SĐ-5; Cừ Larssen: Thường chế tạo 4 loại cừ: IV, V, VI, VII có chiều dài từ 8 - 22m với liên kết móc rắn chắc, tạo ra mô men kháng uốn lớn, đây là loại cừ đang được sử dụng phổ biến hiện nay. Loại này thường thi công bằng búa Diezel, cần có bãi tập kết máy móc Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 18 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên 1. Tường ống thép có khớp neo Tạo nên từ thép dạng ống chất lượng cao, đường kính ống từ 600-3000 mm, giữa các ống có các neo, neo gồm các dạng: P-P, P-T và L-T. Móng này thường sử dụng làm tường vây cảng, cầu, công trình dân dụng, … Nhờ tính năng liên kết bằng tai nối nên tăng tính chịu lực, cọc dạng ống nên khả năng chống uốn cao.
Loại tường vây này thường được thi công bằng búa xung kích. Tường Barrette Là 1 loại cọc khoan nhồi thi công bằng gầu ngoạm, tiết diện hình chữ nhật có cạnh ngắn từ 0.5m, cạnh dài từ 2. Tùy vào địa chất hoặc tải trọng công trình, chiều dài cọc có thể từ vài chục met tới hơn 1 trăm met. Phương pháp thi công gần giống cọc khoan nhồi theo quy trình: đào hố, phụt bentonite, hạ cốt thép, đổ bê tông.
Nhận xét: Trong trường hợp khi gặp phải điều kiện thi công khó khăn, xung quanh khu vực có các công trình ngầm khác, có người dân sinh sống xung quanh các công nghệ thi công này sẽ gặp phải một số vấn đề nhất định. Các phương pháp thi công của các loại tường vây trên đều cần không gian để tập kết máy móc, thiết bị thi công, mặt bằng thi công. Do vậy khi gặp trường hợp mặt bằng thi công chật hẹp sẽ rất khó áp dụng các loại tường vây này. Với công nghệ sử dụng cọc ván thép, cọc ống thép truyền thống thì khó khăn lớn nhất của phương pháp này nằm ở phương pháp thi công.
Phương pháp thi công của công nghệ này sử dụng búa rung và búa diezel để hạ cọc, do đó sẽ gây ra tiếng ồn và rung động, chấn động gây ảnh hưởng đến các công trình ngầm xung quanh và gây khó chịu cho người dân sống xung quanh khu vực. Lớp: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông K25.2 Trang: 19 HVTH: Vũ Hoàng Nguyên Còn với công nghệ cọc Barett, thách thức lớn nhất của công nghệ này khi áp dụng với điều kiện khó khăn như trên là chiếm quá nhiều diện tích mặt bằng để tập kết máy móc, nhân công và vật liệu. Điều này không khả dụng trong điều kiện mặt bằng thi công chật hẹp.